Showing posts with label Bốn Biển Một Nhà. Show all posts
Showing posts with label Bốn Biển Một Nhà. Show all posts

Tuesday, September 26, 2023

Bốn Biển Một Nhà: Chuseok – Tết Trung thu của người Hàn Quốc


(Zila) - Tết Trung thu (Chuseok  추석)  một trong ba dịp lễ lớn của Hàn Quốc, bên cạnh Tết Nguyên đán (Seollal – 설날) và Tết Đoan ngọ (Dano – 단오). Nếu ở Việt Nam tết Trung thu chỉ là ngày lễ dành cho thiếu nhi và mọi người vẫn phải đi học, đi làm như mọi ngày thì ở Hàn Quốc đây được xem là ngày nghỉ lễ chính thức trong năm. Vào dịp lễ này, người dân Hàn Quốc được nghỉ 3 ngày (14, 15 và 16 âm lịch) để có thời gian nghỉ ngơi và quây quần cùng gia đình để chuẩn bị cho một mùa Trung thu hạnh phúc, đủ đầy.

Cùng nằm trong vùng văn hóa chữ Hán, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa, Tết Chuseok của Hàn Quốc diễn ra vào ngày rằm tháng 8 âm lịch hằng năm. Tết Chuseok còn có tên gọi khác là 한가위 (Hangawi), trong đó “한” có nghĩa là lớn và “가위” là ở giữa. Vậy nên 한가위 có nghĩa là ngày lễ lớn giữa mùa thu.

Nguồn gốc và ý nghĩa của Chuseok

Nguồn gốc của ngày lễ Chuseok

Trong Hán tự, Tết Chuseok được gọi là “仲秋節” (trọng thu tiết) hoặc “仲秋佳節 (trọng thu giai tiết). Mang ý nghĩa là lễ hội diễn ra vào giữa mùa thu.

Từ thời xa xưa, cứ vào tháng tám hằng năm sẽ là mùa thu hoạch lúa chín. Đối với tổ tiên của người Hàn, đây là khoảng thời gian họ vui vẻ và hân hoan nhất trong năm vì sau một khoảng thời gian trồng trọt vất vả cũng đã có một mùa vụ bội thu. Vào ngày 15/08 âm lịch – ngày trăng tròn và lớn nhất năm, họ sẽ tổ chức lễ hội. Khi đó họ ăn mừng, vui chơi và nhảy múa. Đây có thể được xem là nguồn gốc của Tết Chuseok ngày nay.

Chuseok được xem là một ngày lễ vào thời kỳ đầu của Tam Quốc. Theo Tam quốc sử ký, thời vua Yuri (24–27), vị vua thứ ba của triều Silla, đã chia cung nữ thành các nhóm thi tài với nhau. Nhà vua treo giải thách các đội dệt vải trong vòng 1 tháng (từ 15/07 đến 14/08 âm lịch) xem ai dệt được nhiều hơn. Vào ngày cuối cùng của cuộc thi tài (15/08 AL) đội thắng cuộc sẽ được quyết định và nhận phần thưởng hậu hĩnh từ vua. Đội thua phải chuẩn bị các món ăn và các tiết mục múa hát. Từ đó, Chuseok dần trở thành ngày lễ vui chơi trong văn hóa người Hàn.

Ý nghĩa ngày lễ Chuseok

Chuseok (“秋夕” – thu tịch) theo nghĩa đen có nghĩa là đêm trăng đẹp nhất mùa thu. Chuseok được xem là ngày tạ ơn đất trời, tổ tiên đã cho một mùa màng bội thu. Và là ngày để tận hưởng thành quả của một mùa đã qua. Đây cũng là thời kỳ công việc đồng áng của năm cũ khép lại và còn cầu mong mùa màng năm sau bội thu hơn.

Trong trồng trọt nói chung và trồng lúa nói riêng, thời điểm thu hoạch là khi mầm nở rộ và kết hạt. Điều này lặp lại theo chu kỳ từ năm này sang năm khác. Nói cách khác, nó tái sinh, giống như bản chất của mặt trăng lặp lại quá trình xoay quanh Trái Đất. Mặt Trăng hồi sinh vào lúc trăng non và cho thấy đỉnh cao sức sống vào ngày trăng tròn. Sau đó biến mất vào cuối tháng và cứ lặp lại chu kỳ đó mỗi tháng. Trong xã hội nông nghiệp, sự tái sinh của mặt trăng và bản chất tái tạo của nghề nông được coi là giống nhau.

Do đó, trăng tròn tượng trưng cho sự dư dả, dồi dào và màu mỡ. Cũng vì vậy mà lễ hội trăng rằm rất Hàn Quốc – đất nước vốn có truyền thống nông nghiệp xem trọng.

Các món ăn đặc trưng trong ngày lễ Chuseok

Tết Chuseok thường rơi vào thời điểm những cơn mưa rào và tiết trời nóng bức của mùa hạ dần kết thúc. Thay vào đó là tiết trời thu mát mẻ, báo hiệu cho một mùa thu hoạch nữa đang đến gần. Chuseok là lễ hội mừng vụ mùa bội thu khi trái cây và ngũ cốc dồi dào. Mọi người sẽ sử dụng gạo mới thu hoạch để nấu cơm trắng, làm bánh gạo và rượu. Vào ngày lễ này, người Hàn thường sẽ ăn những món đặng trưng theo truyền thống của Hàn Quốc.

Songpyeon (송편) – Thông phiến

Songpyeon là món ăn không thể thiếu trong Chuseok. Là món bánh tiêu biểu được làm bằng bột gạo mới, nhân lá vừng, các loại đậu,… Songpyeon được làm bằng cách nhào bột gạo mới với đậu xanh tươi, hạt mè, hạt dẻ, táo tàu, khoai lang, hồng, bột quế. Gọi là songpyeon vì mỗi khi hấp bánh đều người Hàn thường đặt vào đó lá thông. Lá thông có tác dụng làm cho bánh có vị thanh hơn.

Vào đêm trước ngày lễ Chuseok, cả gia đình cùng nhau quây quần làm bánh songpyeon. Bánh được tạo hình bán nguyệt với mong muốn gửi gắm mang đến tương lai tươi sáng và thành công của mọi gia đình.

Trong quan niệm của người Hàn, cô gái nào khéo tay làm ra những bánh songpyeon có hình dáng đẹp, thì sẽ tìm được ý trung nhân tử tế. Còn phụ nữ đã có gia đình thì sẽ sinh những đứa con xinh đẹp, ngoan ngoãn. Do đó, khi làm bánh songpyeon, họ đều rất tỉ mỉ và dồn hết tâm sức của mình để tạo ra những chiếc bánh songpyeon xinh xắn.

Toranguk (토란국) – Canh khoai sọ

Ngoài songpyeon, canh khoai sọ cũng là một món ăn không thể thiếu trong dịp lễ Tết Trung Thu của người Hàn. Theo Hán tự, khoai sọ được gọi là thổ noãn (“土卵” – trứng trong đất). Để loại bỏ đi lớp nhớt bên ngoài, khoai sọ sẽ được luộc qua nước vo gạo hoặc nước muối...

Hoạt động đặc trưng trong ngày lễ Chuseok

Tết Chuseok còn được gọi là “Tết đoàn viên”. Vào ngày này, dù có bận rộn như thế nào hay ở cách xa đến đâu, mọi người vẫn trở về nhà và tề tựu bên gia đình. Cả gia đình cùng nhau làm mâm lễ, cúng kiếng, trò chuyện, ăn uống, ngắm trăng cũng như tận hưởng thành quả sau một mùa thu hoạch. Ngoài ra, vào dịp này, người Hàn cũng chuẩn bị quà và gửi tặng bạn bè, người thân.

Charye (차례) – Lễ cúng gia tiên

Chuseok là một dịp quan trọng để các gia đình Hàn Quốc thể hiện lòng thành kính với tổ tiên. Vào buổi sáng ngày lễ, họ quây quần bên nhau để tổ chức lễ cúng tưởng niệm tổ tiên.

Một năm có hai lần tổ chức Charye: một là trong dịp lễ Seollal (Năm mới) và hai là trong dịp lễ Chuseok. Sự khác biệt giữa hai lễ Charye này là: trong dịp Seollal, món ăn đại diện là tteokguk (떡국 – canh bánh gạo). Còn trong dịp lễ Chuseok, món ăn đại diện là cơm nấu từ gạo mới thu hoạch (메밥), rượu truyền thống và songpyeon (송편). Sau lễ cúng, các thành viên cùng nhau ngồi bên bàn ăn để thưởng thức các món ăn ngon.

Bách thảo (성묘) và Tảo mộ (벌초)

Việc viếng mộ trong dịp lễ Chuseok là một trong những nghi thức thể hiện lòng hiếu kính với các bậc tổ tiên. Nghi thức này được biết với tên Seongmyo (성묘). Ngoài ra, trong dịp này, các gia đình cũng nhổ cỏ mọc xung quanh mộ, được gọi là Beolcho (벌초).

Hai nghi thức này có phần tương tự với phong tục tảo mộ ngày Tết của người Việt. Khoảng một tháng trước Chuseok, các con đường cao tốc của Hàn Quốc trở nên đông đúc vì các gia đình thăm viếng mộ tổ tiên. Sau khi vệ sinh phần mộ xong, họ sẽ bày một mâm lễ gồm hoa quả, ngũ cốc và các sản phẩm đã thu hoạch được trong vụ mùa. Dâng mâm lễ lên cúng tổ tiên để bày tỏ lòng thành kính, biết ơn.

Olgesimni (올게심니) – Tục treo ngũ cốc khô trước cửa

Tục treo ngũ cốc hiện chỉ còn ở các vùng quê. Thường sau khi thu hoạch, nông dân sẽ lựa chọn lúa và các loại ngũ cốc để treo lên. Trước và sau lễ Chuseok, họ cắt và treo một ít lúa chín, cao lương và hạt kê lên cột hoặc cột cửa. Khi thực hiện tục Olgesimni, họ chuẩn bị rượu và thức ăn, mời những người hàng xóm đến. Những loại ngũ cốc dễ kiếm được dùng làm hạt giống hoặc bánh gạo để ăn sau khi mang đến đền thờ hoặc cho một gia thần (가신 – 家神), như thổ công (thổ địa). Olgesimni mang ý nghĩa chúc mừng mùa màng năm nay và cầu mong mùa màng năm sau bội thu.

Những trò chơi truyền thống trong ngày  lễ Chuseok

Ssireum (씨름) – Đấu vật Hàn Quốc

Ssireum là một hoạt động không thể thiếu trong dịp Chuseok. Hoạt động này là dịp để các chàng trai được thể hiện bản lĩnh và sức mạnh của mình. Ssireum thường được tổ chức trên bãi cỏ hoặc bãi cát theo hình thức đấu loại trực tiếp. Trong trận đấu, hai đô vật đối mặt nhau ở giữa một hố cát tròn và tìm cách vật ngã đối phương bằng sức mạnh và kỹ năng của mình. Người cuối cùng trụ lại sau cùng là người chiến thắng và được vinh danh là người đàn ông khỏe nhất làng – jangsa (장사). 

Ganggangsullae (강강술래) – Điệu nhảy vòng tròn Hàn Quốc

Ganggangsullae cũng là một trong những hoạt động nghệ thuật tiêu biểu dịp Chuseok. Trong quan niệm của nhà nông, trăng rằm là biểu tượng cho sự sinh sôi, nảy nở. Trăng tròn cũng được ví như là đỉnh cao của sự thăng hoa về cái đẹp của thiên nhiên và của người phụ nữ. Thời điểm trăng tròn báo hiệu người phụ nữ đã đến kỳ “khai hoa nở nhụy”.

Trong đêm trăng tròn vụ mùa hoặc vào ngày lễ Chuseok, những người phụ nữ mặc Hanbok (한복) nắm tay tạo thành một vòng tròn và cùng nhau hát.

Có nhiều câu chuyện về nguồn gốc của điệu nhảy này. Tương truyền, Ganggangsullae bắt nguồn từ những người phụ nữ thuộc tỉnh Seonam Haean (서남 해안). Ngoài ra, có câu chuyện kể rằng Ganggangsullae có từ Triều đại Joseon (1392-1910). Lúc bấy giờ, quân đội Hàn Quốc cho phụ nữ trẻ trong làng mặc quân phục và đứng thành vòng tròn quanh núi. Quân đội Hàn Quốc đã giành không ít chiến thắng một phần nhờ có chiến thuật này.

Juldarigi (줄다리기) – Kéo co

Đây là trò chơi phổ biến dành cho mọi lứa tuổi nhằm gắn kết tính cộng đồng, tính tập thể của người chơi.

Mặc dù kéo co thường được tổ chức trong đêm giao thừa nhưng cũng được tổ chức vào lễ Chuseok tùy theo từng vùng. Đông Quốc tuế thời ký (동국세시기) ghi lại rằng: “Theo phong tục của đảo Jeju, nam nữ tụ tập vào rằm tháng 8 hàng năm để ca hát và nhảy múa. Nếu đứt dây giữa chừng thì cả hai bên đều rơi xuống đất. Những người xem cười thành tiếng. Đây được gọi là chiếu lý chi hý (조리지희).”

Các thôn xóm, các làng có thể chia đội để thi đấu với nhau. Các đội được phân chia đồng đều về số người chơi. Người chơi càng nhiều thì sợi dây càng dày, càng to và thời gian càng dài. Âm thanh của tiếng trống dồn dập, tiếng hò hét, tiếng cười hòa trộn với nhau tạo bầu không khí ngày Tết Chuseok thêm rộn ràng, vui tươi.

Những câu chúc trong ngày lễ Chuseok

Chuseok là dịp để mọi người cùng quây quần, sẻ chia cho nhau những niềm vui, những câu chúc mong một vụ mùa bội thu, một cuộc sống đủ đầy. Dưới đây là những câu chúc phổ biến mà người Hàn Quốc hay dùng vào dịp lễ Chuseok:

  • 즐거운 추석 맞이하세요. (Chúc bạn đón trung thu vui vẻ).
  • 즐거운 명절 추석입니다. (Mùa Chuseok hạnh phúc).
  • 넉넉한 한가위 맞으세요. (Chúc bạn đón một mùa trung thu dồi dào sung túc).
  • 풍성한 한가위 보내세요. (Chúc bạn có một Tết Trung thu an khang thịnh vượng).
  • 더도 말고 덜도 말고 한가위만 같아라. (Đừng nhiều mà cũng đừng ít, hãy tròn đầy như trăng rằm).
  • 한가위를 맞아 마음 속까지 훈훈해지는 가슴 따뜻한 시간 보내시기를 기원합니다. (Nhân ngày Chuseok chúc bạn có khoảng thời gian thảnh thơi ấm áp).
  • 풍성한 한가위 보름달처럼 당신의 마음도 풍성해졌으면 좋겠습니다. (Chúc bạn cũng ngập tràn sức sống giống như ánh trăng rằm tròn đầy).
  • 온 가족이 함께하는 기쁨과 사랑가득한 한가위 되시길 기원합니다. (Chúc toàn thể gia đình có kỳ nghỉ lễ trung thu đầy ắp niềm vui và tình yêu thương).
  • 즐겁고 뜻깊은 한가위 되시기를 기원합니다. (Chúc một mùa nghỉ lễ trung thu hạnh phúc và nhiều niềm vui).

Tổng hợp bởi: Zila Team

Friday, September 30, 2016

Bốn Biển Một Nhà: Các món chay cho Tết Do Thái Rosh Hashanah

L'shanah tovah! Happy Jewish New Year! (All photos featuring vegan dishes, courtesy of My Jewish Learning & One Green Planet)

Các món chay cho Tết Do Thái Rosh Hashanah
Kim Hoàng / Việt Nam Ăn Chay (Ảnh: My Jewish Learning, One Green Planet)

(VNAC) - L'shanah tovah (Cho một năm tốt đẹp) là lời chúc thường nghe nhân dịp Tết Do Thái, trong tiếng Hebrew được gọi là Rosh Hashanah (có nghĩa là Đầu Năm). Năm nay (2016), Tết Do Thái sẽ bắt đầu vào lúc mặt trời lặn chiều chủ nhật 2 tháng 10 và kết thúc vào đêm 4 tháng 10.

Rosh Hashanah là một trong những ngày lễ thiêng liêng của văn hóa Do Thái. Cũng giống như nhiều dân tộc khác, người Do Thái khắp nơi trên thế giới xem ngày Tết của họ là một dịp để liên hoan, đồng thời nhắc nhở mỗi người nhìn lại chính mình và quyết tâm đổi mới những gì mình ước ao hoàn thiện.

Theo Jeffrey Cohan, đương kim hội trưởng Hội Ăn chay Do Thái (Jewish Veg), nhiều vị giáo sĩ Do Thái (rabbi) là người ăn chay hoặc thuần chay, chẳng hạn như Ngài Lord Jonathan Sacks (cựu rabbi trưởng Anh quốc), David Rosen (cựu rabbi trưởng Ái Nhĩ Lan), David Wolpe (rabbi lãnh đạo tâm linh Đền thờ Sinai, Los Angeles, Hoa Kỳ). Ông Jeffrey Cohan, một cựu ký giả với bằng thạc sĩ về Quản trị Công cộng từ Đại học Carnegie Mellon, ăn chay trường từ năm 2007 và sau đó thuần chay (không thành vật động vật) từ năm 2010.

Số người thuần chay trong cộng đồng Do Thái càng lan rộng, lễ Rosh Hashanah càng có thêm món thuần chay cho người Do Thái chọn lựa. Trên các trang mạng có vô số công thức cho các món thuần chay ngày Tết Do Thái như soup viên matzo, đạm chay đút lò, bông cải trắng nướng lò, bánh mì challah (vòng tròn tượng trưng cho chu kỳ một năm), mật khóm (thay mật ong; theo phong tục, vào đêm đầu tiên của Rosh Hashanah người Do Thái chấm bánh mì challah và táo vào mật để hy vọng có được một năm ngọt ngào), bánh nướng nhân cà, salad đậu lăng với củ dền và hạt phỉ, lúa mạch trộn đậu đen, chả đậu rán với xốt mayo chanh, bắp cải cuộn xốt cà, kẹo mềm quả lựu chà là, mứt lê nấu gừng...: những hình ảnh thơm, đẹp và hòa bình trên bàn ăn!







Tuesday, December 08, 2015

Bốn Biển Một Nhà: Tại sao người Châu Á lại có văn hóa dùng đũa thay vì dao dĩa? (Hoàng Hà)

A popular utensil to accompany Asian cuisines, chopsticks are called by different names: kuaizi in Chinese, hashi in Japanese, jeotgarak in Korean, and đũa in Vietnamese. 

Tại sao người Châu Á lại có văn hóa dùng đũa thay vì dao dĩa?
Hoàng Hà / Theo Trí Thức Trẻ

Được cho là ra đời cách đây khoảng 4.000 đến 5.000 năm ở Trung Quốc, những “phiên bản” đầu tiên của đũa ăn mà chúng ta sử dụng ngày nay, thường được làm từ cành cây và được dùng để nấu nướng do chịu được nhiệt trong môi trường nước sôi hay dầu nóng.

Đến khoảng năm Công Nguyên 500-400 thì đũa bắt đầu được sử dụng như một phần của bộ dụng cụ ăn.

Có rất nhiều câu chuyện lí giải nguồn gốc của đôi đũa ăn. Nhiều người cho rằng, đôi đũa được lấy cảm hứng từ những chú chim với chiếc mỏ dài dùng để ngậm hay gắp cá, các loại hạt, quả nhỏ…

Nhưng bên cạnh đó, thì cũng có những lí do thực tế hơn như sự gia tăng dân số khiến rất nhiều nguyên liệu, đặc biệt là lương thực thực phẩm trở nên ngày càng khan hiếm. Do đó, người ta bắt đầu cắt thức ăn ra thành từng miếng nhỏ để có thể nấu được nhanh hơn và tiết kiệm hơn.

Những mẩu thức ăn được cắt bé làm cho những chiếc dao bếp trở nên “lỗi thời” bởi chúng còn quá ít để có thể cắt được nhỏ thêm nữa. Lúc đó, đôi đũa trở thành một công cụ vô cùng đơn giản, tiện dụng do chúng được làm rất dễ dàng từ những nguyên liệu rẻ tiền và dễ kiếm. Và thế là một xu hướng mới được ra đời.
Sự có mặt của dao trên bàn ăn dần bị phai mờ một phần cũng là do chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của đạo Khổng. Là một người ăn chay, Khổng Tử cho rằng dùng dao để ăn là không thích hợp bởi theo quan điểm của ông, “một người đàn ông đáng kính và ngay thẳng thì phải tránh xa lò mổ và bếp núc”. 

Saturday, November 07, 2015

Bốn Biển Một Nhà: Tìm hiểu văn hóa Lào qua 5 lễ hội nổi tiếng

"Laos cerebrates many annual festivals called Boun in the Lao language which are particularly enjoyable and beautiful, signifying traditional aspects of Lao lifestyle. Most festivals are connected with religion and the yearly rice farming cycle. The timing of the festivals is calculated according to the Buddhist lunar calendar, thus changing every year." - Source: Laos' Official Tourism Website

Tìm hiểu văn hóa Lào qua 5 lễ hội nổi tiếng
Ngọc Khánh (t.h.)

Là một nước thuộc cộng đồng ASEAN, lại là nước láng giềng của Việt Nam, văn hóa Lào có những nét gần gũi nhất định với Việt Nam. Cũng như Việt Nam, Lào có rất nhiều lễ hội trong năm.

1. Lễ hội Thạt Luổng

Là đất nước mà đạo Phật được coi là Quốc đạo, hàng năm tại Lào hầu như tháng nào cũng có lễ hội. Trong đó, lễ hội Thạt Luổng là lễ hội truyền thống đặc sắc, đậm nét văn hóa Lào nhất. 

Lễ hội Thạt Luổng diễn ra vào những ngày sát rằm tháng 12 Phật lịch, kéo dài một tuần và kết thúc vào đúng ngày rằm của tháng. 

Phạ Sạt Phơng là một mô hình kiến trúc đền thờ được làm bằng chất liệu xốp, xung quanh gắn hoa làm bằng sáp ong màu vàng rực rỡ. Trên chóp cắm 9 bông hoa sen trắng, xung quanh tháp có các tua dây kết hoa hoặc tiền bạc có ý nghĩa giống như tập tục đốt nhà cửa, tiền bạc… cho người đã khuất của người Việt Nam. Một trong những nét chính của phần lễ Thạt Luổng - lễ hội truyền thống đặc sắc của Lào - là lễ rước Phạ Sạt Phơng (lễ rước tháp) từ chùa Mẹ Xỉ Mương tới Thạt Luổng. 

Khi đến Thạt Luổng, những người rước sẽ khiêng Phạ Sạt Phơng đi vòng quanh Thạt Luổng ba vòng trước khi dừng lại ở hậu sảnh dâng lễ và được sư thầy tiếp nhận lễ vật với hình thức trang trọng, nghiêm cẩn, thành kính. 

Theo tục lệ, mỗi gia đình, bản hoặc một nhóm người… đều có thể chung nhau cúng một Phạ Sạt Phơng.

2. Lễ hội cầu mưa Bun Bangfai 

Lễ hội cầu mưa Bun Bangfai được tổ chức vào tháng 5. Lễ hội được tổ chức vào những ngày khác nhau ở các làng khác nhau trên cả nước và rải rác trong suốt cả tháng.

Lễ hội bắn pháo cầu mưa ở làng Naxone, quận Pakngum, Vientiane (Lào) được xem là lễ hội lớn so với những làng khác do làng Naxone khá gần thủ đô Vientiane nên thu hút số lượng đông đảo nhân dân Vientiane và khu vực lân cận tham gia.

3. Lễ hội té nước Bunpimay

Lễ hội truyền thống té nước của Lào có tên gọi là lễ hội Bunpimay thường diễn ra từ 13 đến 15/4 hàng năm theo Phật lịch. 

Lễ hội mang ý nghĩa đem lại sự mát mẻ, phồn vinh cho vạn vật, ấm no hạnh phúc, thanh khiết hóa cuộc sống của con người. Ngày Tết, mọi người thường té nước vào nhau để cầu may cho cả năm. 

Tết Bunpimay thường diễn ra trong ba ngày. Ngày đầu tiên cũng là ngày cuối cùng của năm cũ, người ta lau dọn sạch sẽ trong nhà ngoài ngõ, chuẩn bị nước thơm và hoa. Vào buổi chiều, người dân trong làng tập trung ở chùa để làm lễ cúng Phật, cầu nguyện, nghe các nhà sư giảng đạo. 

Người ta lên chùa để cầu mong sức khoẻ và hạnh phúc cho cả năm. Sau đó, người ta rước tượng Phật ra một gian riêng trong ba ngày và mở cửa để mọi người có thể vào tắm Phật. Nước thơm sau khi tưới lên các tượng Phật sẽ được hứng lại đem về nhà để xức vào người làm phước. 

4. Lễ hội mãn chay Okphansa 

Lễ hội Okphansa - tiếng Lào có nghĩa là Lễ hội mãn chay - một trong những lễ hội lớn nhất của Lào diễn ra hàng năm vào dịp rằm tháng 11 theo lịch Phật Lào.
Lễ hội Phăn xả là lễ hội lớn nhất trong năm, diễn ra trong ba tháng gọi là mùa chay. Lễ hội bắt đầu từ ngày rằm tháng 8 gọi là Khậu phăn xả (Vào mùa chay) và kết thúc bằng lễ hội Okphansa, nghĩa là mãn chay. 

Trong ba tháng mùa chay, các nhà sư chăm việc thiền định, nghiên cứu Phật pháp hoặc giảng dạy, còn người thường ai nấy đều không cất nhà, không cưới hỏi và có thể tạm thời bỏ rượu, bỏ hút thuốc...

Tuy có các tháng kiêng kỵ, nhưng các họat động của xã hội Lào vẫn diễn ra bình thường. Tất cả mọi người, từ nông thôn đến thành thị đều trọng lễ này và sắm lễ vật lên chùa. Mục đích của lễ hội này là cầu may, cầu an và sức khỏe, đất nước thanh bình, mùa màng tốt tươi.

5. Lễ hội đua thuyền

Theo quan diểm của người Lào sau ba tháng ăn chay, mọi người đã xua hết những ưu phiền để bắt đầu với những ngày mới của cuộc đời, đây là thời điểm diễn ra lễ hội đua thuyền - lễ hội truyền thống đặc sắc của người Lào. 

Lễ mãn chay gồm có 3 hoạt động chính đó là: hành lễ (trong đó có cúng thực và rước nến xung quanh chùa), thả thuyền đèn, nhưng quan trọng và sôi nổi nhất là hội đua thuyền.

Trước ngày lễ người dân đến các ngôi chùa trong thành phố để làm lễ “Tắc bạt” (lễ khấn Phật, xá tội). Đêm trước của ngày hội đua thuyền họ tập trung ở bờ sông Mê-kông để thả đèn và thuyền xuống dòng sông, cầu mong hạnh phúc và những điều tốt đẹp. 

Lễ hội đua thuyền truyền thống của Lào được xem như là một mốc khởi động cho sự vui chơi giải trí, lập gia đình, làm nhà.... của người dân Lào.


Tuesday, November 25, 2014

Bốn Biển Một Nhà: Kết nối văn hóa Việt Nam-Peru qua "trình diễn nấu ăn Peru"

Source: EscapedToPeru.com
Quinoa is a tasty superfood that is grown in the Peruvian highlands.

Kết nối văn hóa Việt Nam-Peru qua "trình diễn nấu ăn Peru"
Nguyễn Hồng Điệp

(TTXVN/VIETNAM+) - Ngày 24/11, tại Hà Nội, Đại sứ quán Peru tại Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Tây Ban Nha tổ chức buổi “Trình diễn nấu ăn Peru”. Đây là hoạt động mở đầu chuỗi hoạt động văn hóa kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Peru-Việt Nam (1994-2014).

Phát biểu tại buổi trình diễn nấu ăn Peru, ngài Luis Tsuboyama, Đại biện lâm thời Cộng hòa Peru tại Việt Nam nhấn mạnh, năm 2014 đánh dấu mốc quan trọng kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Peru và Việt Nam.

Quan hệ hai nước đã có những tiến triển tốt đẹp trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Sự thành lập Đại sứ quán Peru tại Việt Nam năm 2013 đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi để hai bên thực hiện nhiều hoạt động hợp tác trên các lĩnh vực ngoại giao, thương mại, đầu tư và văn hóa. 

Việc giới thiệu ẩm thực Peru với người dân Việt Nam cũng là một trong những nhiệm vụ nhằm thúc đẩy, trao đổi văn hóa giữa hai nước, đồng thời góp phần củng cố tình hữu nghị giữa hai đất nước Việt Nam và Peru.

Giới thiệu những món ăn của Peru tới Việt Nam ngày hôm nay, bà Maria Rosa, đầu bếp đã có nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong các Đại sứ quán Peru tại các nước châu Á cho biết: Bản sắc dân tộc của Peru rất đa dạng và phong phú.

Sự đa dạng được thể hiện trong các nguyên liệu của các món ăn như khoai tây, hạt quinoa, ớt… Món salat là một trong những món ăn truyền thống mà Đại sứ quán Peru muốn giới thiệu ngày hôm nay.

Trong những nguyên liệu sử dụng trong buổi trình diễn nấu ăn Peru, đầu bếp Maria Rosa giới thiệu thông tin về hạt quinoa, là một trong những loại hạt tốt cho sức khỏe, đặc biệt cho phụ nữ có thai, người bị bệnh tiểu đường, người ăn chay và những người muốn giảm cân.

Nguyên liệu hạt quinoa được sử dụng bằng nhiều cách khác nhau trong những món ăn hàng ngày cho đồ uống hoặc trong mỹ phẩm, chocolate, snack...

Tại buổi trình diễn nấu ăn Peru, các vị khách quan tâm đến tới ẩm thực Peru cũng đã được thưởng thức món ăn truyền thống như món salat quinoa và hai đồ uống nổi tiếng của Peru như: pisco sour và algarrobina.



Monday, June 23, 2014

Bốn Biển Một Nhà: Quốc gia duy nhất coi “hạnh phúc của dân” là sự thịnh vượng

From a Guardian article: Bhutan, a small country in Asia, measures prosperity with emphasis on GNH (gross national happiness) rather than GDP (gross domestic product).

Quốc gia duy nhất coi “hạnh phúc của dân” là sự thịnh vượng
Bích Ngọc (Theo CNA/Guardian)

(Dân trí) - Chỉ số GNH (tạm gọi “tổng hạnh phúc quốc dân”) là một ý tưởng lớn xuất phát từ một quốc gia nhỏ - Bhutan.

Đây là quốc gia duy nhất trên thế giới tính toán mức độ thịnh vượng của đất nước dựa trên mức độ hạnh phúc của người dân, chứ không phải dựa trên chỉ số GDP - tổng sản lượng nội địa. Ý tưởng của Bhutan từng một thời khiến cả thế giới phải nhắc đến quốc gia châu Á bé nhỏ này.

Bhutan hiện đang nổi lên trong lĩnh vực du lịch như một quốc gia Phật giáo đầy bí ẩn. Họ không đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thay vào đó, họ duy trì cuộc sống thanh bình, chậm rãi của người dân, không “đô thị hóa”, không “hiện đại hóa”…

Bhutan chú trọng phát triển dịch vụ du lịch nhưng với một mức giá cao để đảm bảo du lịch có thể hỗ trợ cho sự phát triển của Bhutan, đồng thời, giúp hạn chế lượng khách đổ về Bhutan, có thể gây khó khăn cho việc bảo vệ thiên nhiên và giữ gìn bản sắc của họ.

Khi đến Bhutan, người ta sẽ không thấy nhiều biển hiệu quảng cáo mà thay vào đó là những câu khẩu hiện hẳn sẽ khiến nhiều du khách mỉm cười, chẳng hạn “Cuộc sống là một cuộc hành trình! Hãy lên đường!”, “Hãy để thiên nhiên dẫn đường chỉ lối!” hoặc “Rất xin lỗi nếu có bất cứ sự bất tiện nào!”…

Chỉ số GNP của Bhutan được hiện thực hóa trong từng chi tiết nhỏ của đời sống, họ hy vọng những du khách đặt chân đến Bhutan cũng có thể được hưởng sự hạnh phúc, dễ chịu trong cuộc sống của những người dân nơi vương quốc xa xôi, bí ẩn này.

Bhutan là quốc gia của những đền đài, tu viện cổ xưa. Người dân nơi đây là những tín đồ trung thành của Phật giáo, đi đến đâu, bạn cũng sẽ thấy cờ phướn của nhà Phật tung bay, khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ không hề bị tác động bởi bàn tay con người.

Bhutan mới chỉ bắt đầu mở cửa từ cách đây 40 năm nhưng nhanh chóng, quốc gia này đã định hướng được lối đi cho mình khiến nhiều quốc gia phương Tây phải chú ý.

Kể từ năm 1971, Bhutan đã loại bỏ chỉ số GDP (tổng sản lượng nội địa) và thay thế bằng một chỉ số mới - GNH (tổng hạnh phúc quốc dân), theo đó, đời sống tinh thần - thể chất, văn hóa - xã hội của người dân, việc bảo vệ tài nguyên - môi trường của quốc gia… được đưa lên ưu tiên số một.

Trong ba thập kỷ qua, Bhutan đã đề ra một quan điểm đi đầu thế giới rằng sự hạnh phúc, khỏe mạnh của người dân quan trọng hơn sự phát triển kinh tế. Đây được xem là một hướng đi độc đáo.

Giờ đây, khi thế giới lao đao trước những cơn khủng hoảng kinh tế, trước tình trạng thiên nhiên bị hủy hoại, khí hậu nóng lên… thì riêng một mình quốc gia bé nhỏ Bhutan lại ngày càng nổi lên như một quốc gia thịnh vượng, đã định hướng được cách phát triển bền vững, lâu dài và hiệu quả.

Những thành tựu đáng kinh ngạc của Bhutan là minh chứng cho điều đó. Trong vòng 20 năm, tuổi thọ trung bình của người dân Bhutan được tăng gấp đôi, 100% trẻ em được tới trường, mức độ trong lành của môi trường ở mức lý tưởng, thiên nhiên được bảo vệ tối đa, 60% diện tích quốc gia được che phủ bởi rừng… Bhutan cấm việc xuất khẩu gỗ, mỗi tháng đều có một ngày toàn dân đi bộ…

Bộ trưởng Giáo dục Bhutan - ông Thakur Singh Powdyel từng phát biểu: “Phá rừng phá biển để làm giàu thì quá dễ, ở Bhutan, chúng tôi tin rằng đó không phải là cách để thịnh vượng dài lâu. Chỉ có cách bảo vệ thiên nhiên - môi trường, chăm sóc cho chất lượng cuộc sống người dân thì một quốc gia mới thực sự được coi là phát triển”.

Ông Powdyel cho biết thêm: “Thế giới thường hiểu nhầm chỉ số GNH của Bhutan. Người ta luôn hỏi làm thế nào mà đất nước các anh lại có được một dân tộc hạnh phúc? Thực tế GNH là một lý tưởng dẫn đường, là đích đến của mọi chính sách, để đất nước chúng tôi có thể phát triển bền vững”.

Ở các trường học ở Bhutan, học sinh được định hướng giáo dục theo chuẩn “nhà trường xanh”. Bên cạnh việc học các môn cơ bản, các em được học cách làm nghề nông, cách sống thân thiện với môi trường, chính các em sẽ tham gia phân loại và tái chế rác của nhà trường mình.

Ngoài ra, mỗi ngày đến lớp đều có một khoảng thời gian để cô trò cùng ngồi thiền. Chuông báo hết tiết là những đoạn nhạc du dương giúp người nghe thư giãn. Giáo dục Bhutan không đặt nặng việc các em phải là những học sinh giỏi, họ muốn các em sẽ là những công dân tốt.

Tại thời điểm này, Bhutan đang chuẩn bị tiến hành tính toán chỉ số GNH của năm 2014. Năm nay, Bhutan sẽ mời các chuyên gia Nhật Bản sang cùng tiến hành công việc để minh chứng cho sự chính xác của chỉ số GNH tại đây.

Chỉ số GNH của Bhutan đang ngày càng thu hút sự quan tâm và khen ngợi của dư luận quốc tế, ngày càng có nhiều học giả từ khắp nơi trên thế giới tìm hiểu, phân tích về chiến lược phát triển của vương quốc bé nhỏ nằm trong dãy Himalaya - đất nước Bhutan.



Monday, May 19, 2014

Bốn Biển Một Nhà: Chiến tranh và Hòa bình (Thầy Thích Pháp Hòa)


Greater peace can only be achieved when our heart is at peace.

Chiến tranh và Hòa bình
Thầy Thích Pháp Hòa
13 tháng 11, 2011
Tu viện Trúc Lâm
Edmonton, Canada



Sunday, March 16, 2014

Bốn Biển Một Nhà: Hoa hậu Thế giới Rosanna Davison kêu gọi thuần chay

Photo credit/copyright: Marc O'Sullivan/PETA
Nutritionist and Miss World 2003 Rosanna Davison, from Ireland, encourages all to adopt the environmentally friendly vegan diet. She says, "Vegan meals are packed with nutrients and free of unhealthy animal fat and cholesterol, so they’re a great way to keep your weight down and your energy up... The best thing to do for your health and for animals is to go vegan – for St Patrick’s Day and every day!”

Happy St. Patrick's Day, everyone!

Hoa hậu Thế giới Rosanna Davison kêu gọi thuần chay
Hoa Sen Vàng / Việt Nam Ăn Chay

(VNAC) - Người mẫu, chuyên gia dinh dưỡng, kiêm Hoa hậu Thế giới 2003 Rosanna Davison là người thuần chay. "Y phục" cô mặc trong tấm ảnh này thật ra là lớp sơn màu xanh lá cây do nhà trang điểm Shima Mistry vẽ kiểu, nhân Ngày Thánh Patrick, 17 tháng 3. Thánh Patrick là vị thánh bảo hộ của quốc gia Ái Nhĩ Lan.

Cô Rosanna chia sẻ: “Thức ăn thuần chay đầy chất dinh dưỡng, không có chất béo và cholesterol không tốt của động vật, cho nên thực phẩm chay là một cách rất tuyệt vời để giảm cân và tăng năng lực...  Điều hay nhất để làm cho sức khỏe của bạn và cho các bạn thú là thuần chay - trong Ngày Thánh Patrick và mọi ngày!" 

Cựu Hoa hậu Thế giới Rosanna xinh xắn mang tấm bảng của Hội Bảo vệ Loài vật PETA với thông điệp "Hôn tôi đi, tôi thuần chay!" 

Monday, January 06, 2014

Bốn Biển Một Nhà: Rực rỡ quốc hoa của 10 nước ASEAN

Known for its grace and purity, the pink lotus is generally considered the national flower of Việt Nam. Please enjoy the following photos of other ASEAN (Association of Southeast Asian Nations) national flowers. 

Rực rỡ quốc hoa của 10 nước ASEAN

(VNE) - Bắt nguồn từ biểu tượng của nhà vua thời Trung cổ ở châu Âu, quốc hoa là loài hoa biểu trưng cho một nước, được mọi người dân yêu thích. Ở mỗi nước quy định, ý nghĩa về quốc hoa lại khác nhau.

Myanmar, hoa dáng hương mắt chim

Quốc hoa của Myanmar là hoa padauk (Pterocarpus indicus), loài hoa thơm mọc thành chùm nhỏ màu vàng. Theo quan niệm của người Myanmar, loài hoa này là biểu tượng của tuổi trẻ, tình yêu và sự lãng mạn. Hoa padauk đóng một vai trò không thể thiếu trong các nghi lễ truyền thống và tôn giáo ở xứ sở Chùa Vàng.

Indonesia với hoa nhài, lan mặt trăng và hoa xác thối

Indonesia có đến ba loài hoa được coi là quốc hoa. Hoa nhài tượng trưng cho sự cao quý và tinh khiết. Hoa lan mặt trăng là một loài hoa phong lan đẹp mọc phổ biến ở Indonesia. Hoa xác thối là loài hoa đặc hữu chỉ có trên đảo Sumatra, nổi tiếng thế giới với kích thước khổng lồ và mùi tương tự như một miếng thịt thối.

Philippines với hoa nhài Ảrập

Loài hoa này có màu trắng, các cánh tỏa ra hình ngôi sao với hương thơm ngọt ngào đặc trưng. Xuất hiện trong các truyền thuyết, truyện dân gian và các bài hát của Philippines, hoa sampaguita được coi là biểu tượng của sự tinh khiết, khiêm nhường, giản dị và sức mạnh.

Brunei với hoa simpor

Hoa simpor (Dillenia suffruticosa) có cánh lớn màu vàng tươi. Loài hoa này thường được tìm thấy dọc theo các con sông ở Brunei, đặc biệt là sông Temburong, và cả các khu vực đầm lầy hoặc cát trắng. Hình tượng hoa simpor xuất hiện rộng rãi trong các mẫu mã thủ công truyền thống của Brunei và được đưa lên đồng tiền 1 dollar của quốc gia này.

Thái Lan với hoa muồng hoàng yến

Những người dân Thái coi màu vàng của loài hoa này như là màu sắc của Phật giáo và sự vinh quang. Hoa ratchaphruek cũng tượng trưng cho sự đoàn kết và hòa hợp của người Thái.

Campuchia với hoa rumdul

Hoa rumdul (Mitrella mesnyi) có màu vàng nhạt, hình dáng tròn trĩnh. Hoa có hương thơm đặc biệt quyến rũ trong đêm tối, bởi vậy mà trong nhiều thế kỷ người phụ nữ Campuchia thường được ví von với loài hoa này. Thường được trồng làm cảnh ở nơi công cộng, hoa rumdul có thể được bắt gặp ở mọi nơi trên đất nước Campuchia.

Malaysia với hoa râm bụt

Hoa râm bụt (Hibiscus rosa-sinensis), loài hoa 5 cánh có màu đỏ tươi đại diện cho 5 nguyên tắc quốc gia - triết lý quốc gia của Malaysia trong việc tăng cường đoàn kết và hòa giải dân tộc, trong khi màu đỏ tượng trưng cho lòng quả cảm. Loài hoa này được trồng trên khắp đất nước Malaysia.

Việt Nam với hoa sen
Hoa sen (Nelumbo nucifera) tượng trưng cho sự thanh cao, bất khuất của con người trước mọi nghịch cảnh. Hình tượng hoa sen có vai trò rất quan trong trong các công trình kiến trúc, điêu khắc và tác phẩm văn học nghệ thuật trải dài trong nhiều thế kỷ của người Việt.

Singapore với hoa lan "miss joaquim"

Xuất hiện trước công chúng từ năm 1899, loài hoa này mang tên của chính người tạo ra nó, một phụ nữ làm vườn mang tên Agnes Joaquim. Với vẻ đẹp sắc sảo, phong lan miss joaquim đã chinh phục trái tim những người yêu hoa và được trồng rộng rãi trên đảo quốc sư tử.

Lào với hoa đại (champa)

Đối với người dân Lào, dok champa đại diện cho sự chân thành và niềm vui trong cuộc sống. Loài hoa này thường được sử dụng để trang trí các nghi lễ hoặc làm thành vòng hoa chào đón khách. Hoa dok champa được trồng phổ biến trên toàn lãnh thổ Lào, đặc biệt là gần khu vực các tu viện.



Wednesday, January 01, 2014

Bốn Biển Một Nhà: Tết tây, Tết ta (Thu Phương - Thùy Linh)

Welcoming 2014 (Photo by Vũ Quỳnh / VietnamAnChay.com)

Happy New Year 2014 from Việt Nam! May all be at peace.

Tết tây, Tết ta
Thu Phương - Thùy Linh 

(CAND.com) - Không phải tất cả các nước trên thế giới đều đón thời khắc năm mới vào cùng một lúc và theo những cách thức giống nhau. Do ở những vùng khác nhau nên sử dụng những lịch khác nhau. Từ xa xưa, các nhà nghiên cứu đã chia thời gian thành các ngày, các tháng, các năm. Một số lịch dựa trên sự vận động của mặt trăng, số khác thì dựa vào vị trí của mặt trời, trong khi một số lại dựa vào cả mặt trăng và mặt trời. Khắp nơi trên thế giới đều có những tín ngưỡng đặc biệt về Tết.

Từ lịch Caesar (Julian Calendar)

Tết tây thường được tính vào ngày 1/1, ngày đầu tiên của năm theo lịch Gregorian hiện đại cũng như lịch Julian (được dùng trong thời kỳ La Mã cổ đại). Hầu hết các nước đều sử dụng lịch Gregorian làm lịch chính, nên Tết Dương lịch (Tết tây) là kỳ nghỉ chung duy nhất của các công dân trên toàn cầu, và nó thường được chào đón bằng nghi lễ trang trọng như bắn pháo hoa vào thời khắc giao thừa sang năm mới. Ngày 1/1 theo lịch Julian tương ứng với ngày 14/1 theo lịch Gregorian.

Ngày tết hiện nay không dùng chung cho tất cả các nước trên thế giới dù về phương diện thống kê, kinh doanh và thương mại. Ngày 1/1 dương lịch vẫn được xem là thời điểm đánh dấu một năm trôi qua và năm mới bắt đầu. Mọi giao dịch mang tính quốc tế đều theo dương lịch cho thống nhất và tiện lợi.

Ngày đầu năm mới đã có từ lâu và biến đổi qua nhiều thiên kỷ theo lịch sử tiến hóa của loài người. Nó bắt đầu từ thời cổ đại và tồn tại cùng với dòng chảy văn minh. Ngày và giờ được qui định khác nhau ở từng quốc gia và từng lục địa tùy theo tiết khí, múi giờ… đồng thời cũng tùy vào chủng tộc và nền văn hóa của từng nước, từng tôn giáo.

Đế quốc La Mã là nước đầu tiên chọn ngày 1/1 là ngày năm mới (New Year's Day) trong hệ thống lịch Julian do Hoàng đế Julius Caesar đề xướng. Còn trước đó, ngày 25/3 (ngày xuân phân - vernal equinox) được chọn là ngày đầu năm dương lịch. Ngày năm mới 25/3 này được đa số các nước theo đạo Cơ đốc ở châu Âu chấp nhận từ thời trung cổ 1.100 - 1.400 TCN.

Thấy những bất tiện này, Hoàng đế Julius Caesar cho lập bộ Lịch mới (Julian Caesar). Lịch mới là phát minh của nhà thiên văn người Hy Lạp Alexandria, trong đó, ông tính hệ thống thời gian cho lịch theo mặt trời. Caesar muốn thay đổi ngày đầu năm là ngày 1/1, ngày mà ông cho là hợp lý nhất, vì như vậy sẽ phù hợp với điểm chí (solstices) hay điểm phân (equinoxes) và tiết khí. Các tháng  9, 10, 11, 12 đôn lên thành 7, 8, 9 và 10. 

Để ghi ơn Julius Caesar, bộ lịch cách tân Julian được Viện Nguyên lão dành riêng tháng 7 (July, xuất xứ từ chữ Julius) cho tháng sinh nhật của ông (Quintilis). Đến đời cháu của Caesar, Hoàng đế Augustus cũng được dành ra tháng 8 (August) để nhớ tháng sinh nhật Sextilis của ông. 

Công lớn của Augutus là sửa sai cách tính toán của năm nhuận. Ngày này không phải là thời điểm thu hoạch vụ mùa hay tiết trời đặc biệt nào mà chỉ là ngày các Nguyên lão trúng cử bắt đầu nhận nhiệm vụ mới trong Viện Nguyên lão (Thượng viện) của Đế quốc La Mã mà thôi. Như vậy, thời Đế quốc La Mã, ngày đầu năm được tính lùi lại ba tháng và ngày 25/3 được xem là ngày đầu năm. Sau này, mỗi Hoàng đế La Mã lên trị vì thường đặt thêm tên khác cho tháng. Ví dụ tháng 9 (September) còn gọi là "Germanucus", "Antonius" hay "Tacitus", và tháng 11 (November) còn gọi là "Domitianus", "Faustinus" hay "Romanus".

Đến lịch Gregory XII (Gregorian Calendar)

Lịch Julian được chấp nhận ở Venice (Ý) (năm 1522); Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, người Cơ đốc giáo ở Nam châu Âu (năm 1556); Đế quốc Phổ, Đan Mạch, Thụy Điển (năm 1559); Pháp (năm 1564). 

Đến năm 1582, lịch Julian mất chỗ đứng khi Giáo hoàng Gregory XII ngay sau ngày nhậm chức đã dùng phương pháp tính Lịch hiện đại để phân chia tháng năm. Giáo hoàng sửa đổi và ấn định ngày đầu của năm mới (New Year) là ngày 1/1 bất chấp những chống đối của nhiều hiệp hội tín đồ Cơ đốc giáo. Trong lịch sửa đổi có tên "Lịch Gregorian", 10 ngày trong tháng 10 bị bỏ đi.

Như vậy, ngày 4/10/1582 nhảy sang ngày 15/10/1582 và tiếp tục. Bằng cách này, Giáo hoàng đã xóa bỏ 11 ngày nhuận dự trù cho năm 1700 để các năm đầu thế kỷ 1700, 1800 và 1900 không phải là năm nhuận mà đến năm 2000 chuyển giao thiên niên kỷ mới nhuận. 

Các nước theo đạo Công giáo tiếp nhận ngày "New Year" trong lịch Gregorian sớm nhất. Người Tin lành (Bắc châu Âu), Hà Lan (năm 1583); Scotland (năm 1600); sau đó đến những nước theo đạo Tin Lành và nước Đức chấp nhận ngày "New Year" vào năm 1700, Nga (năm 1725); Anh, Mỹ, Canada (năm 1752) và Thụy Điển (năm 1753). Tất cả đều đồng tình với việc xóa bỏ 11 ngày của năm nhuận 1700.

Tháng Giêng (January) được đặt tên theo vị thần Janus, người được phác họa có hai đầu. Một trông về phía trước, một trông về phía sau, biểu tượng cho sự chuyển giao giữa cái cũ và cái mới. Người Hy Lạp thời điểm này có truyền thống trưng một đứa bé sơ sinh vào trong một cái rổ tượng trưng cho sự màu mỡ, sinh sôi, nảy nở. Người theo đạo Cơ đốc giáo cũng làm theo nghi lễ này tượng trưng cho sự sinh ra Chúa trời và như một nghi thức hành đạo. Ngày nay, biểu tượng bắt đầu của năm mới là một đứa trẻ sơ sinh và hình ảnh một ông già khép lại năm cũ.

Tết Mặt trăng

Người Trung Hoa tính theo hệ thống mặt trăng cho nên ngày năm mới rơi vào tháng bắt đầu có trăng, khoảng 4 hay 8 tuần trước khi mùa xuân đến. Ngày chính xác có thể vào khoảng giữa ngày 21/1 hay ngày 21/2 của lịch Gregorian. Lịch Trung Hoa thành lập không giống lịch Gregorian bởi vì phạm vi của mùa thay đổi. Và mỗi năm có can chi khác nhau (Mậu Tý chẳng hạn) tượng trưng cho 1 trong 12 con giáp luân phiên theo qui luật Ngũ Hành với chu kỳ 60 năm. Tết Nguyên đán Việt Nam từ xưa dựa theo lịch Trung Hoa nên thường giống lịch Trung Quốc.

Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam đại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng Giêng, tức tháng Dần là Tết. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. 

Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày Tết khác nhau. Nguyên nghĩa của từ "Tết" chính là "tiết". Văn hóa Đông Á - thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước - do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã phân chia thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc "giao thời") trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên đán, sau này được biết đến là Tết Nguyên đán.

Đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng Giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh Loài người và ngày thứ tám mới sinh ra Ngũ cốc. Vì thế mà ngày Tết thường được kể từ ngày mồng một cho đến hết ngày mồng bảy tháng giêng (8 ngày).

Ngày nay, cùng với người Hoa, người Việt, các dân tộc khác chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Triều Tiên, Mông Cổ, Tây Tạng, Nepal, Bhutan cũng tổ chức Tết âm lịch với các nghi lễ chính thức. 

Trước đây, Nhật Bản cũng cử hành Tết âm lịch, nhưng từ năm Minh Trị thứ 6 (1873) họ đã chuyển sang dùng dương lịch cho các ngày lễ tương ứng trong âm lịch. Trước năm 1967, Việt Nam lấy giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Ngày 8/8/1967, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành đổi lịch dùng múi giờ GMT +7 làm chuẩn. Vì thế hai miền Nam Bắc Việt Nam đón Tết Mậu Thân hai ngày khác nhau (miền Bắc ngày 29/1 trong khi miền Nam thì ngày 30/1).

Tết Nguyên đán là lễ Tết đầu tiên của một năm. Tết được bắt đầu từ lúc giao thừa cùng với lễ trừ tịch. Theo chữ Hán nôm, Nguyên có nghĩa là bắt đầu, đán là buổi sớm mai. Tết Nguyên đán tức là Tết bắt đầu của năm, mở đầu cho mọi công ăn việc làm với tất cả mọi cảnh vật đều mới mẻ đón xuân sang.

Người Việt tin rằng, vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, phải đổi khác, từ ngoại vật cho đến lòng người, vì vậy khoảng mươi ngày trước Tết, họ thường sơn, quét vôi nhà cửa lại. Họ cũng tất bật đi sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp này. Trong những ngày Tết, họ kiêng cữ không nóng giận, cãi cọ. Tết là dịp để mọi người hàn gắn những hiềm khích đã qua và là dịp để chuộc lỗi. Mọi người đi thăm viếng nhau và chúc nhau những lời đầy ý nghĩa. Trẻ em đi chúc Tết được người lớn lì xì một phong bì đỏ thắm có đựng ít tiền dành cho chúng tiêu xài ngày Tết. Tết ở 3 miền Bắc, Trung, Nam ở Việt Nam cũng có những điều khác nhau.


  

Thursday, March 07, 2013

Bốn Biển Một Nhà: Lịch sử ngày Quốc Tế Phụ nữ 8/3

Lịch sử ngày Quốc Tế Phụ nữ 8/3
(Nguồn: Tổng hợp Internet)

Ngày Quốc tế Phụ nữ là thành quả của đấu tranh lâu dài và lặng lẽ của hàng triệu phụ nữ trên thế giới. Trước đây do trọng nam khinh nữ, nên phận làm nữ chịu nhiều thiệt thòi nhất hàng thế kỷ. Lịch sử đấu tranh mới chỉ bắt đầu từ thời cổ Hy Lạp, Lysistrata cuộc tranh đấu chống lại nam giới để chấm dứt chiến tranh.

Lịch sử của ngày Quốc Tế Phụ nữ bắt đầu từ năm 1857 đến 1911.

Ngày 8 tháng 3 năm 1857, các công nhân ngành dệt chống lại những điều kiện làm việc khó khăn và tồi tàn của họ tại thành phố New York, Hoa Kỳ: 12 giờ làm việc một ngày. Hai năm sau, cũng trong tháng 3, các nữ công nhân Mỹ trong hãng dệt thành lập công đoàn đầu tiên đã được bảo vệ và giành được một số quyền lợi.

50 năm sau, ngày 8 tháng 3 năm 1908, 15.000 phụ nữ diễu hành trên các đường phố New York để đòi được giảm giờ làm việc, lương cao hơn và hủy bỏ việc bắt trẻ con làm việc. Khẩu hiệu của họ là "Bánh mì và Hoa hồng" (Bread and Roses). Bánh mì tượng trưng cho bảo đảm kinh tế gia đình, hoa hồng tượng trưng cho đời sống tốt đẹp hơn. Sau đó, Đảng Xã hội Mỹ tuyên bố Ngày Quốc tế Phụ nữ là ngày 28 tháng 2 năm 1909.

Trong Hội nghị Phụ nữ do Quốc tế thứ II (Quốc tế Xã hội chủ nghĩa) tổ chức ngày 8 tháng 3 năm 1910, 100 đại biểu phụ nữ thuộc 17 nước đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Chủ tịch là Clara Zetkin, phụ nữ Đức, đã đề nghị chọn một ngày quốc tế phụ nữ để nhớ ơn những phụ nữ đã đấu tranh trên toàn thế giới. Hội nghị đã chọn ngày 8 tháng 3 làm Ngày Quốc tế Phụ nữ. Ngày đó năm 1911 đã được hơn một triệu người tham gia trong các nước Áo, Đan Mạch, Đức và Thụy Sĩ.

Ngày 25 tháng 3 năm 1911, 145 nữ công nhân, phần lớn là di dân người Ái Nhĩ Lan và người Do Thái của hãng Triangle Shirtwaist Company tại thành phố New York đã chết trong một vụ cháy trong xưởng dệt. Họ không có ngõ thoát ra ngoài được: cửa xưởng đã được khóa chặt để công nhân không được ra ngoài trước khi hết giờ làm việc. (Điều này đã thúc đẩy việc sửa đổi luật lệ lao động.) Có khoảng 80.000 người diễn hành trong các đường phố đã đưa đám tang lớn của 145 nạn nhân chết cháy.

Năm 1912, 14.000 công nhân hãng dệt đình công và la Lớn "Better to starve fighting than starve working" (Chết đói vì chiến đấu hơn là chết đói vì làm việc). Nữ công nhân nghỉ việc 3 tháng.

Năm 1912, nhà thơ Mỹ James Oppenheim (1882-1932) viết bài thơ "Bread and Roses" sau lần diễn hành 14.000 người đình công tại Lawrence, Massachusetts. Sự can đảm của họ đã làm cảm hứng cho bài "Bread and Roses," thường được hát trong ngày Quốc tế Phụ nữ.

Ngày 8 tháng 3 năm 1914: Phụ nữ Đức đòi quyền bầu cử nhưng đến ngày 12 tháng 10 năm 1918 mới được chấp thuận.

Ngày 23 tháng 2 năm 1917 theo lịch Nga, nhằm ngày 8 tháng 3 dương lịch, các nữ công nhân Nga đã ra đường biểu tình đình công, đòi bánh mì và đòi trả chồng con họ trở về từ chiến trận. Cuộc đình công này đã khiến Sa hoàng Nicolas II phải thoái vị và góp phần rất lớn vào cuộc Cách mạng tháng Mười ở Nga.

Năm 1920, phụ nữ Hoa Kỳ được quyền bầu cử.

Năm 1928, phụ nữ Anh được quyền bầu cử.

Năm 1932, phụ nữ Thái Lan được quyền bầu cử.

Năm 1937, phụ nữ Phi Luật Tân được quyền bầu cử.

Ngày 21 tháng 4 năm 1944, Quốc hội Pháp chấp nhận quyền bầu cử cho phụ nữ Pháp. Phụ nữ Pháp đã đi bầu hội đồng thành phố lần đầu tiên vào ngày 20 tháng 4 năm 1945. Trong lúc đó đàn ông Pháp đã được đi bầu từ năm 1848, tức là từ một thế kỷ trước.

Năm 1946, phụ nữ Việt Nam được quyền bầu cử, sau nước Pháp 2 năm.

Năm 1947, phụ nữ Trung Hoa, Nhật và Ấn Độ được quyền bầu cử.

Ngày 8 tháng 3 năm 1948, tại nước Pháp, 100.000 phụ nữ đã tổ chức một cuộc diễu hành tại Paris, từ Place de la République đến tượng Jeanne d’'Arc.

Năm 1955, phụ nữ Cam Bốt được quyền bầu cử.

Năm 1958, phụ nữ Lào được quyền bầu cử.

Năm 1971, Thụy Sĩ chấp nhận quyền bầu cử cho phụ nữ.

8 tháng 3 năm 1975, bắt đầu chú ý và tổ chức ngày Quốc tế Phụ nữ.

Năm 1977, nghĩa là hai năm sau ngày Quốc tế Phụ nữ, Liên Hiệp Quốc quyết định mời các nước dành một ngày để nói lên quyền lợi của người phụ nữ và hòa bình thế giới. Và ngày 8 tháng 3 được chọn để trở thành ngày lễ chung cho nhiều quốc gia trên thế giới.

Sunday, December 25, 2011

Bốn Biển Một Nhà: Thế giới đón Giáng sinh với thông điệp hòa bình - His Holiness the Pope issued pleas for peace on Earth

Photo: Andrew Medichini / AP

In a traditional Christmas address, His Holiness Pope Benedict XVI called for peace on our planet. His Holiness said, "May the Lord come to the aid of our world torn by so many conflicts which even today stain the earth with blood." Amen.

Thế giới đón Giáng sinh với thông điệp hòa bình
Tác giả: Nguyệt Hà

Đêm qua (24/12), thế giới tưng bừng đón Giáng sinh với một không khí nhộn nhịp trên khắp các châu lục cùng nhiều thông điệp kêu gọi hòa bình.

Bất chấp trời mưa, hàng ngàn người đã nêm chặt quảng trường Thánh Peter của Vatican để tham dự lễ Giáng sinh. Phát biểu tại buổi lễ, Giáo hoàng Benedict XVI cho rằng, ngày nay, Giáng sinh đã trở thành một lễ hội bị thương mại hóa và mọi người cần nhìn xa hơn thế. Giáo hoàng đã đưa ra một thông điệp mạnh mẽ kêu gọi hòa bình, để hòa bình "chiến thắng trong thế giới này của chúng ta".

Rất nhiều người dân châu Âu tham dự buổi lễ tại Vatican đã thể hiện những mong ước và hi vọng về một tương lai kinh tế tươi sáng hơn cho toàn bộ châu lục.

"Tôi nghĩ Giáng sinh này khác hẳn, bởi vì chúng ta đang gặp khó khăn và chúng ta phải thể hiện tình đoàn kết là những người theo đạo Thiên chúa giáo. Điều quan trọng là chúng ta thể hiện bức thông điệp mạnh mẽ về tình đoàn kết của tất cả người dân châu lục này, không kể người Italy hay người Pháp”, Odile Voton, du khách Pháp nói.
 
"Chúng ta phải giữ niềm tin và tiến lên phía trước. Dù có khủng hoảng hay không thì mọi thứ rồi đâu cũng vào đó, mọi thứ rồi sẽ được giải quyết. Các nhà hàng vẫn đông người, các bữa ăn vẫn không thiếu”, Glanni Palazzi, công dân Italy chia sẻ.

Hòa bình cũng là thông điệp chính trong bài thuyết pháp của Giám mục Jerusalem Fuad Twal ở thị trấn Bethlehem - nơi theo Kinh Thánh là nơi Chúa Jesus đã chào đời. Giám mục Fuad Twal kêu gọi hòa bình, ổn định và an ninh cho khu vực, nhấn mạnh rằng "bình yên và hòa hợp cần nhanh chóng trở lại" ở những điểm nóng như Syria, Ai Cập, Iraq và khu vực Bắc Phi. Giám mục Fuad Twal cũng hoan nghênh sự có mặt của Tổng thống Palestine Mahmud Abbas tại buổi lễ Giáng sinh ở Bethlehem, chúc mừng ông Abbas với những nỗ lực không mệt mỏi để hướng tới hòa bình ở Trung Đông mà phần chính trong đó là thành lập một Nhà nước Palestine.

Phát biểu tại buổi lễ, Tổng thống Palestine Abbas kêu gọi hòa bình tại Trung đông và kêu gọi Israel không "đặt ra những rào cản” trên con đường đi đến đích đó.

Tổng thống Palestine Mamoud Abbas phát biểu: "Chúc mừng tất cả các bạn nhân lễ Giáng sinh. Chúc tất cả những người anh em chúng ta một năm mới hòa bình, đầy tình yêu và thịnh vượng. Chúng tôi mong muốn những người dân Palestine có một năm đạt được hòa bình và khát vọng độc lập tại những vùng đất thiêng của mình”.

Tại Đài Loan, một trong những nơi ở châu Á đón Giáng sinh sớm nhất, hàng ngàn người đã đổ ra các đường phố để xem lễ diễu hành đêm Giáng sinh. Tại Đài Loan, đa phần người dân theo đạo Phật, nhưng các hoạt động đóng Giáng sinh ngày một phổ biến. Trong trang phục các ông già Noel, các quan chức hòn đảo này cũng nhân dịp Giáng sinh tiến hành nhiều hoạt động từ thiện giúp những trẻ em nghèo.

Còn tại Mỹ, Giáng sinh mới vừa đến từ trưa nay theo giờ Việt Nam, nhưng từ hôm qua, Tổng thống Mỹ Obama đã gửi lời chúc nhân dịp Giáng sinh và Năm mới đến tất cả người Mỹ, đặc biệt cảm ơn những binh sĩ đã phục vụ đất nước. Tổng thống Obama nhấn mạnh rằng, cuộc chiến tại Iraq đã kết thúc và các binh sĩ Mỹ đã về nhà để ăn mừng Giáng sinh và Tết. Ông Obama đã cảm ơn binh sĩ, gia đình họ và các cựu quân nhân và yêu cầu tất cả người Mỹ hãy bày tỏ lòng tri ân đối với những người phục vụ quân đội bằng cách ra sức phục vụ cho cộng đồng.


http://www.vtv.vn/Article/Get/The-gioi-don-Giang-sinh-voi-thong-diep-hoa-binh-9e4a18aeb4.html