Showing posts with label Văn Hóa Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Văn Hóa Việt Nam. Show all posts

Saturday, April 08, 2017

Văn Hóa Việt Nam: Sài Gòn: Người lớn, trẻ nhỏ hào hứng ăn buffet chay miễn phí ngày Giỗ tổ

Bài, ảnh: Văn Tiên - Hoàng Lê

(Thời Đại) - Không có cảnh chen lấn, xô đẩy hay chặt chém du khách, Giỗ tổ ở Sài Gòn với tiệc buffet chay và nước ngọt miễn phí khiến hàng nghìn người dân hào hứng, thích thú.

Sáng 6-4 (nhằm 10/3 Âm lịch) hàng nghìn người dân từ khắp nơi đã về Đền thờ Vua Hùng, Công viên văn hóa lịch sử Q.9 (TP HCM) để dâng hương ngày Giỗ tổ. Khác hẳn với cảnh chen chúc, xô đẩy thường gặp, không khí ngày Giỗ tổ diễn ra hết sức trang nghiêm, lịch sự.

Ngoài việc tổ chức các gian hàng trò chơi dân gian như múa rối nước, biểu diễn võ thuật cổ truyền, hội trại kết nối anh em... ngày giỗ tổ ở Sài Gòn trở nên đặc sắc với tiệc buffet chay và nước ngọt miễn phí, phục vụ cho hàng nghìn người dân tại Đền thờ Vua Hùng.


Hàng chục món ăn chay lạ mắt, hấp dẫn đã được các tăng ni Phật tử, tình nguyện viên chuẩn bị từ rất sớm để phục vụ cho người dân tham quan. 

Chị Nguyễn Thị Lan Anh (ngụ Thủ Đức) dẫn theo hai con nhỏ đến dâng hương tại Đền thờ Vua Hùng (Q.9) hào hứng nói: "Không những không có cảnh chặt chém, giá cả đắt đỏ mà ngược lại Giỗ tổ lại có phục vụ đồ ăn chay miễn phí và người tham gia cũng rất lịch sự, tôi cảm thấy rất vui".

Để xem toàn thể bài viết, xin viếng nguồn dẫn:

Friday, October 14, 2016

Văn Hóa Việt Nam: Đàn bầu là của người Việt Nam


More than 200 artists from 30 countries attended a talk in Hà Nội on October 13, 2016 about đàn bầu (gourd lute), a one-string Vietnamese traditional instrument. The event was hosted by the Vietnamese Musicians Association.

Please enjoy "Ghost Riders in the Sky", a performance with Vietnamese traditional instruments, featuring the uniquely Vietnamese đàn bầu.


Đàn bầu là của người Việt Nam
Bài & ảnh: Ngọc An | 10:07 AM - 14/10/2016 | Thanh Niên

(TN) - Trong cuộc tọa đàm Cây đàn bầu Việt Nam diễn ra tại Hà Nội chiều qua 13.10, các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc khẳng định: 'Đàn bầu là của người Việt Nam, duy nhất có tại Việt Nam'.

Giữa tháng 8.2016, Báo Thanh Niên đăng bài Cần sớm khẳng định “chủ quyền” với đàn bầu, trong đó nêu ý kiến cảnh báo của GS-TS Trần Quang Hải về việc Việt Nam có thể bị “mất quyền sở hữu” cây đàn bầu nếu không sớm có động thái phù hợp khi Trung Quốc đang lưu tâm đến cây đàn này.

Trong khuôn khổ Liên hoan Âm nhạc mới Á - Âu do Hội Nhạc sĩ Việt Nam tổ chức với sự tham gia của hơn 200 nghệ sĩ đến từ 30 quốc gia trên thế giới, buổi tọa đàm Cây đàn bầu Việt Nam đã được tổ chức không chỉ giới thiệu những giá trị độc đáo mà còn khẳng định về nguồn gốc xuất xứ của loại nhạc cụ này.

Từ dân gian đến chính sử


Trong buổi tọa đàm, NSND Nguyễn Tiến đã chia sẻ nhiều khảo dị trong dân gian về cây đàn bầu.

“Có một khảo dị kể rằng cây đàn bầu gắn liền với sự tích quả bầu. Một người đàn bà mang thai 3 năm và đẻ ra một quả bầu. Người chồng mới đặt quả bầu lên gác bếp. Trong lúc anh lấy que để khều lửa vô tình chọc vào quả bầu. Từ trong quả bầu xuất hiện đứa trẻ da vàng, rồi da trắng, da đỏ, da đen. Câu chuyện đó để nói về sự đoàn kết của các dân tộc bất kể màu da trên thế giới này”, câu chuyện của NSND Nguyễn Tiến khiến các vị khách quốc tế mỉm cười thích thú.

Nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Quang Long cho biết truyền thuyết dân gian có lưu truyền câu chuyện về ông tổ nghề hát xẩm Trần Quốc Đĩnh cùng với sự xuất hiện của cây đàn bầu.

Chuyện kể rằng, vua Trần Thánh Tông có hai người con trai là Trần Quốc Đĩnh và Trần Quốc Toán. Vì muốn tranh giành quyền lực, Trần Quốc Toán đã dụ em trai vào rừng sâu và dùng chiếc gương có độc chiếu vào mắt. Đôi mắt của Trần Quốc Đĩnh không còn nhìn thấy gì nữa, còn người anh độc ác đã bỏ em lại nơi rừng thiêng nước độc.

Ông Bụt thương tình bèn dạy cho Trần Quốc Đĩnh cách làm cây đàn vang lên những âm thanh da diết. Người đi rừng nghe thấy tiếng đàn đã tìm được và đưa ông về. Khi trở về cung, ông đã dạy đàn cho những người khiếm thị, người nghèo để họ làm kế sinh nhai kiếm sống. Nghề hát xẩm cũng ra đời từ đó. Trên thực tế, cây đàn bầu gắn liền với hát xẩm, loại hình diễn xướng dân gian độc đáo phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 tại khu vực châu thổ sông Hồng.

Sách Đại Nam thực lục tiền biên do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, ghi chép các sự kiện lịch sử của chúa Nguyễn Đàng Trong, từ đời chúa Nguyễn Hoàng (trị vì từ 1558 - 1613) đến hết đời chúa Nguyễn Phúc Thuần (trị vì 1765 - 1777) cũng có ghi chép về đàn bầu.

Cây đàn độc đáo

Trước ý kiến cho rằng cách đây khoảng 500 năm, một bộ phận cộng đồng dân tộc Kinh (ở Việt Nam) đã di cư sang Quảng Tây (Trung Quốc) mang theo cây đàn bầu và loại nhạc cụ này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam, cho hay: “Tôi đã tìm hiểu và biết được loại nhạc cụ của họ gần giống như đàn bầu nhưng không phải là đàn bầu”.


NSND Hoàng Anh Tú biểu diễn hát xẩm và đàn bầu

Ông Quân phân tích, loại nhạc cụ ở Quảng Tây có hình dáng gần giống với đàn bầu VN, nhưng cấu tạo, chế tác lại khác nhau. Ngoài ra, cây đàn đó không có đời sống trong cộng đồng.

NSND Thanh Tâm nhớ lại, ngay từ năm 1956 khi Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam (khi đó là Nhạc viện Hà Nội) được thành lập, đã có khoa đàn bầu.

Từ những năm 1960, nhiều đoàn nghệ sĩ Việt Nam đã sang Trung Quốc và nhiều quốc gia trên thế giới để biểu diễn đàn bầu. Như trong khoảng thời gian 1960 - 1970, các nghệ sĩ đàn bầu Việt Nam đã biểu diễn tại Thượng Hải, Bắc Kinh, Thâm Quyến (Trung Quốc). “Chúng tôi đã tặng cho họ những cây đàn bầu làm kỷ niệm”, NSND Nguyễn Tiến, người có mặt trong những chuyến lưu diễn đó, nhớ lại.

Ông không quên được chuyến lưu diễn tại Bắc Kinh vào năm 1973. “Lúc đó do sơ ý tôi đã làm bầu đàn bị vỡ. Tôi liền nhờ những người bạn Trung Quốc làm lại giúp tôi. Họ chưa từng làm bầu đàn như vậy bao giờ nên phải đến đo kích thước, vẽ lại hình dáng rất cẩn thận rồi mới làm được”, ông kể và cho biết thêm trong cuộc trò chuyện về đàn bầu tại học viện ở Quảng Châu (Trung Quốc), những người tham dự hôm đó đã rất khâm phục sự sáng tạo của người Việt Nam với cây đàn bầu.

Nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Senegal cũng có những cây đàn một dây. Trên thế giới có nhiều đàn một dây, nhưng đàn một dây mang tên đàn bầu chỉ có ở Việt Nam. Đàn bầu là loại đàn duy nhất có âm thanh trong trẻo, quyến rũ, mềm mại giống tiếng người nói. Đây là loại đàn không đánh bằng âm thực mà đánh bằng âm bồi”, NSND Nguyễn Tiến nhìn nhận.

Chính sự độc đáo của cây đàn này mà nhiều người nước ngoài đã tìm học. Tôn Tiến, một giảng viên đại học ở Quảng Tây (Trung Quốc), đã tìm tới NSND Thanh Tâm theo học đàn bầu. Năm 2015, Tôn Tiến đã bảo vệ luận văn đề tài Nghệ thuật đàn bầu trong giai đoạn mới tại VN tại Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam. Tôn Tiến đã viết trong luận văn: “Đàn bầu là một cây đàn đặc sắc của Việt Nam, có từ lâu đời và vốn sinh ra để phục vụ đời sống tinh thần dân tộc. Khi nhắc tới cây đàn bầu là nhắc tới một cây đàn có vị trí đặc biệt quan trọng đối với đời sống tinh thần của người dân Việt Nam”.

“Thế giới có sự giao lưu giữa các nền văn hóa, nhiều loại đàn như đàn nhị của người Trung Quốc đã du nhập vào Việt Nam. Nhưng nếu nói về nguồn gốc xuất xứ của cây đàn bầu thì phải khẳng định đó là của Việt Nam”, nhà nghiên cứu âm nhạc Quang Long nhìn nhận.



Thursday, June 09, 2016

Văn Hóa Việt Nam: Ninh Xá làng Phật, làng sen


Ninh Xá làng Phật, làng sen
Cảnh Linh

(SKĐS) - Ninh Xá không xa trung tâm thành phố  lắm, chừng 15 cây số, thuộc xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội. Đầu tháng sáu, nắng ong ong ngát thơm mùi sen phả lên từ một con đầm bên đường làng. Thiên nhiên bất ngờ mát rượi khi cơn gió ùa tới. Chúng tôi, ai nấy đều hít hà với nhịp điệu sảng khoái, ngỡ ngàng trước một không gian vời vợi cánh đồng sen...

Lăng Liên Hoa và chuyện nhị vị Bồ Tát

Khi đến với làng Ninh Xá, chúng tôi được nghe chuyện hai nàng công chúa sinh đôi của Lý Thánh Tông (1054-1072), trọn một kiếp tu và tạ thế nơi đây. Cuối mùa xuân năm nay, người làng Ninh Xá đã tu bổ và xây mới lăng của hai bà trên cánh đồng của làng. Đó là Lăng Liên Hoa mà hai bà khi về già đã nhờ thầy phong thủy chỉ định mộ chí để yên giấc ngàn thu. Đó cả là một câu chuyện bi ai của hai nàng công chúa nhà Lý, khi về tu tại chùa làng. Chúng tôi nghe người nhà chùa kể như được sống lại một thuở xa xưa với hình ảnh dịu dàng và ấm áp của hai cô công chúa  Lý Từ Thục và Lý Từ Huy...

Chuyện hai nàng công chúa, con của vua Lý Thánh Tông và hoàng hậu Thượng Dương, nhất quyết đi tu không biết có liên quan gì đến thế sự triều đình không, nhưng khi vua triệu hai nàng về để lấy chồng là chiến binh nơi cửa khẩu, để yên bề trấn thủ biên phòng, thì nhất quyết không chịu. Vua bắt các con phải hoàn tục và ra lệnh cho đốt ngôi chùa Long Hưng ở làng Đông Phù (xã Đông Mỹ), nơi mà hai nàng đã quy y tam bảo. Nhưng hai nàng vẫn quyết chí đi tu cho thành chính quả, bèn trốn sang chùa Trúc Lĩnh (thuộc làng Tự Khoát, xã Ngũ Hiệp) ở gần đó. Vua cha giận quá sinh ốm, kém ăn, kém ngủ và đau mắt nặng. Hay tin, hai nàng vội vã về kinh thành tạ tội, nhưng vẫn một bề xin vua cha cho phép trọn kiếp tu hành, bởi cả hai “Trước tòa sen trót nặng lời thề. Dẫu sống chết cũng qui y tam bảo” (Lời trong bài hát văn thờ ngày lễ).

Cùng với những quân sư, tướng lĩnh và hoàng hậu cầu xin vua xá tội kháng chỉ, nên hai nàng công chúa được tiếp tục về chùa ăn chay niệm Phật. Hơn nữa, lúc đó quan quân triều đình đã có cách giải thoát những vấn nạn, xảy ra ở biên cương. Vua cũng bớt sầu lo, khỏe mạnh trở lại và còn cho quan quân về làng Đông Trù, xây lại ngôi chùa đã đốt và đặt tên là Hưng Long Tự. Đồng thời vua còn cho xây tiếp trên đất Trúc Lĩnh một ngôi chùa mới cho hai công chúa và đặt tên là Hưng Phúc Tự. Hai người đã tu mấy chục năm ở Hưng Phúc Tự cho đến cuối đời.

Trong mấy chục năm tu hành, hai công chúa đã xin vua cha cấp tiền mua đất chia cho 9 xã, thôn trong tổng Nam Phù (phía Nam huyện Thanh Trì) để canh tác. Hai bà còn bán hết vàng bạc, châu báu mang theo để chu cấp cho mọi người học nghề phụ tạo nên cả một vùng rộng lớn bao quanh sông Hồng làm ăn sầm uất. Mỗi làng một nghề hình thành khu thương mại kết nối các chợ nông thôn phát triển ngày một thịnh vượng. Các làng nghề đã hình thành và tồn tại hàng trăm năm cho đến nay như, làng Chanh Khúc làm các loại bánh chưng, bánh dày, bánh gai; làng Đông Phù làm bún, làm đậu; Tự Khoát thì làm nong, nia dần sàng, rổ rá; hay làng Đam Uyên lại ươm tơ...  Công ơn của hai bà gần ngàn năm qua đã được nhân dân ghi nhớ. Họ đã tôn vinh hai người như những Phật bà tái thế, là sư tổ của các chùa quanh vùng.

Sau mấy chục năm tu hành và giáo hóa, phát triển đời sống dân sinh quanh vùng, hai bà đã đến độ viên mãn, đạt tới chính quả. Để chuẩn bị cho ngày về cõi, hai vị sư tổ tìm thầy định chốn thiêng dựng am thất. Đó là am bằng gỗ thông dựng dưới lòng đất của cánh đồng Liên Hoa thuộc làng Ninh Xá. Đó chính là nơi chôn cất khi hai vị sư tổ hóa vào đúng ngày rằm tháng ba năm Ất Hợi (1095), đời vua Lý Nhân Tông. Dân làng Ninh Xá đã được trông coi, chăm nom Lăng Liên Hoa, theo di chúc của hai bà để lại. Cả ba làng Ninh Xá, Đông Phù, Tự Khoát đều xây đền, dựng tượng thờ hai bà. Công khai hóa dân sinh và đức độ cao quý của hai bà đã được các đời vua ghi nhận và ngợi ca. Đến thời Lê sơ, hai vị sư tổ đã được phong là “Linh thông đại Bồ Tát”. Từ đó dân khắp các vùng lân cận đều gọi hai bà là “nhị vị Bồ Tát”.

Đặc biệt, ngày lễ hội để tưởng nhớ hai bà, dân làng Ninh Xá còn tổ chức đêm Hát Văn thờ. Bài hát văn này gồm 220 câu kể sự tích và công đức nhị vị Bồ Tát. Lễ vật ngày chính hội (15/3) là chiếc bánh dày cỡ lớn đặt trên hương án của làng Chanh Khúc rước đến. Bao quanh chiếc bánh dày lớn là 9 chiếc bánh dày nhỏ, tượng trưng cho 10 làng quanh vùng mang công ơn bà. Cùng với các chùa khác còn có các cuộc thi hát văn kể công ơn hai bà đã đem đến cho dân làng ruộng đất và miếng cơm manh áo từ ngàn năm trước. 

Khi chúng tôi đến đây hỏi ai cũng có thể nhớ những câu hát văn thờ, kể chuyện hai bà rằng: “Hai con gái Thánh Tông hoàng đế. Chị Từ Thục tuổi chỉ mười hai. Em Từ Huy đóa hương nhài. Ngại ngùng chi sợ đến vài năm sau. Ngại lấy chồng tuyến đầu biên giới. Xa mẹ cha, ngại cả rừng xanh. Thế nên xin được tu hành. Vào chùa niệm Phật để thành ni sư...”.

Hạnh “Sen”


Lăng Liên Hoa nằm trên cánh đồng Liên Hoa của làng Ninh Xá mang hình ảnh những đóa sen hồng. Quả nhiên vì sao đến đây đã thấy gió ngào ngạt hương sen, cả nắng nữa cũng mang hương thơm thanh thoát. Xa xa là những đầm sen nhiều sắc màu đến kỳ lạ. Hỏi ra mới biết ở Ninh Xá còn có một người mang tên Hạnh “sen”. Ông đã dồn hết vốn liếng tâm sức của mình để tạo nên cánh đồng sen nơi đây. Không biết có phải chính đây là lộc của “Nhị vị Bồ Tát” để lại và còn phát tài đến ngày nay. Một nghề làm mới Ninh Xá. Một nghề làm thơm Ninh Xá. Ông Nguyễn Văn Hạnh là sự khởi đầu.

Ông chủ đầm sen bộc bạch lòng mình yêu sen từ bé, có những đêm đã ôm cánh sen ngủ và bị gai cào xước tay. Trong giấc mơ cậu bé Hạnh ngày ấy đã chạy như bay trên một hồ sen, với đôi cánh tay vẫy vùng trên không trung. Cậu bé đã hát vang lời ru của mẹ một thời: “Trong đầm gì đẹp bằng sen. Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng bông trắng lá xanh. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Một triết lý mang một vẻ đẹp vĩnh cửu của loài người, cho đến nay và mãi mãi mai sau, thật khó có thể quên. 

Ông Hạnh đã bắt tay vào trồng sen từ những ký ức của tuổi thơ. Và, ông đã bắt đầu với sen qua một dự án hết sức âm thầm và có phần điên rồ, khi một mình khai khẩn một con hồ rộng 5.000m2 đầy cỏ lác. Đó là câu chuyện của Hạnh “sen” cách đây 7 năm. Không ai tin là ông có thể biến cái hồ mênh mông đó thành một cánh đồng sen. Vốn đi vay. Nghề đi học. Làm thì một mình. Phải có ý chí lắm mới có thể liều lĩnh đến vậy và đã bị người ta đặt cho một cái tên là Hạnh “khùng” cũng chẳng sai.

Vậy mà Hạnh “khùng” vẫn máu làm sen với tâm hồn lãng mạn nhất, khi nghĩ rằng kể cả không làm ra tiền, thì cũng để ngắm hoa chơi. Ông tâm nguyện những đóa sen đầu tiên sẽ đem lên chùa xin lộc “Nhị vị Bồ Tát”, mong hai ngài phù hộ cho cánh đồng sen ngày một thắm hoa. Sau khi làm sạch hồ, công việc còn lại là trồng giống sen nào thích hợp cũng không phải đơn giản. Đừng nghĩ trồng sen dễ như dạo chơi, vùi cái gốc xuống bùn là xong và thành hoa. Không, chuyện đi tìm giống sen mới là một cuộc hành hương không kém phần cam go. Đi bất cứ đâu. Nào là giống sen nổi tiếng ở Hưng Yên, Bắc Ninh, Hòa Bình... nào là giống sen Cung đình từ xứ Huế mộng mơ; lại nữa giống sen hồng cánh đơn từ Tháp Mười... Nghĩa là đi và học. Mua giống và học nghề. Một hành trình đúng là hành xác.

Ông kể, lúc đầu trồng, sen nhú lên được cái mầm đã sướng đến mất ngủ. Vậy mà sau đó là những đêm thức trắng vì vào đúng thời điểm trời đất khô nóng không có lấy một giọt mưa. Mà lấy nước vào hồ sao cho đủ, cho dù là có cả con sông Hồng ở gần đó. Nhưng để đưa nước về cũng không dễ dàng gì, vì đường khá xa, chi phí quá cao, đành cắn môi khóc thầm. Nhưng đúng là ông trời có mắt, đã mưa xuống như trong mơ vậy, sen mọc như có cánh. 

Ít lâu sau những búp sen bật nhú lên phơn phớt hồng. Ngỡ như có con chim hót trong tâm hồn mình vậy. Ông Hạnh nhảy cẫng lên như một đứa trẻ. Niềm vui bay bổng trong không trung xanh thắm. Từ đó ông Hạnh được mang cái tên “sen”, với 12 giống hoa được lai phối qua sự nỗ lực vượt bậc và những áp dụng khoa học, qua những trang sách đã học được. Đặc biệt, ông trồng được giống sen Quan âm cùng với loại sen Cung đình và sen Tịnh Đế, rất phù hợp với việc cúng lễ và lên chùa. Hoa có mùi thơm ngát cùng những cánh hồng phơn phớt tím tạo nên một sự ấm cúng, bình yên trong tâm cảm. Đó là một giống sen của riêng ông Hạnh thì đúng hơn. Có lẽ thế...

Tuyệt đỉnh một cung văn

Nói đến lễ hội Ninh Xá, không ai không biết đến một cung văn lừng lẫy một thời, chẳng ai sánh kịp. Giọng hát Lê Bá Cao. Ông đã từng đoạt giải Nhì tại Liên hoan Hát văn khu vực Bắc Bộ năm 1994. Gia đình ông mấy đời hát văn ở Ninh Xá. Dù đã mất cách đây 3 năm, ở tuổi ngoài 80, nhưng ông Lê Bá Cao vẫn là một trong những nghệ nhân cây đa, cây đề trong làng hát văn. Riêng điệu hát văn thờ bao giờ cũng là một thử thách nặng nề nhất đối với cung văn. Vừa hát, vừa đàn lại phải biết cúng nên nghệ nhân Lê Bá Cao được người làng gọi là thầy cung văn.

Người dân Ninh Xá ai cũng nhớ, mỗi khi đến đoạn cuối của hơn 220 câu văn thờ, giọng thầy Cao càng ngọt, đó là một sự điêu luyện và thấm đẫm âm hưởng tâm linh của người hành lễ. Đêm về khuya, nhiều người còn ở lại để nghe ông hát dâng lên “Nhị vị Bồ Tát” những thỉnh cầu, để mong các ngài phù hộ cho dân làng được phú quý, bình an. Khi đó tiếng đàn thầy Cao càng âm vang, khát khao những ước vọng bao đời mà dân Ninh Xá đã tôn thờ “Nhị vị Bồ Tát”, với những câu ca: “Hội chùa lễ rước tôn thân. Ni sư triều Lý nhiều vần thơ dâng...”. Khi ấy thời gian đã nửa đêm. Một không gian thấm đẫm hương sen ngát từ cánh đồng Hoa Liên như một giấc mơ khi ngôi sao mai lấp lánh. Người ta nhớ đến giọng hát thầy Cao ở cõi tâm linh ấy, thành kính và thiêng liêng, suốt 70 năm ở đền Ninh Xá.



Friday, January 29, 2016

Văn Hóa Việt Nam: Truyền thuyết về tập tục múa lân ngày Tết


Kỳ lân (in Vietnamese, lân for short), or qilin (in Chinese), is a mythical one-horn dragon-like creature that has been part of the lunar New Year in some Asian cultures for thousands of years. Kỳ is male and lân is female; kỳ lân are vegan! 

From wikipedia: "In Buddhist influenced depictions, they will refuse to walk upon grass for fear of harming a single blade, and thus are often depicted walking upon the clouds or the water. As they are divine and peaceful creature, their diets do not include flesh. They take great care when they walk to never tread on a living creature, and appear only in areas ruled by a wise and benevolent leader, which can include a household."

Truyền thuyết về tập tục múa lân ngày Tết
Huỳnh Khoa

(TGT) - Từ xa xưa, tập tục múa lân đã trở thành một nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt.

Chuyện kể rằng từ rất xa xưa, trên trần gian xuất hiện một con quái thú luôn đi phá hại dân lành, gây ra bao nhiêu lầm than, khốn đốn. Đức Phật Di Lặc thương dân lành trong cảnh khốn cùng, đã hóa phép xuống trần gian để thu phục con quái vật. Đức Phật đã dùng linh chi thần dược trên núi cho con quái thú ăn và thu phục được nó. Từ đó hàng năm, đức Phật Di Lặc đưa con thú đã được thuần hóa xuống trần gian, múa giúp vui cho nhân dân. 

Con quái thú trong câu chuyện chính là con lân trong các màn trình diễn ngày nay. Đức Phật Di Lặc đã được hình tượng hóa trong nhân vật ông Địa luôn nở nụ cười hân hoan của múa lân dân gian Việt Nam. (Nhiều người lầm tưởng ông Địa trong múa lân là Thổ Địa, thực tế nhân vật này được sáng tạo nên để hình tượng hóa Phật Di Lặc.)

Ông Địa và con lân đi đến đâu sẽ mang phúc lành đến đó, trở thành niềm vui ngày Tết trong dân gian của trẻ con Việt hàng trăm năm nay. Hình ảnh ông Địa và con lân cũng thể hiện sự hòa hợp giữa con người và động vật trong thiên nhiên.

Truyền thuyết về múa lân cũng phản ánh bài học về sự phục thiện, quay đầu là bờ trong tín ngưỡng của người Á Đông, rằng con người luôn có thể chọn con đường tốt, "buông hạ đồ đao" thì sẽ "lập địa thành Phật".


Long (rồng), Lân (kỳ lân), Quy (rùa), Phụng (phượng hoàng) là 4 linh vật đem lại thịnh vượng, hạnh phúc và điềm lành cho dân gian. Kỳ lân trong tứ linh có hình thù dữ dằn nhưng lại có tính tình hiền lành, ngây ngô, vui vẻ. Học theo đức Phật, lân ăn chay, niệm Phật, sống ở những nơi thanh bình. Nơi nào lân ghé đến thì hạnh phúc, phồn thịnh sẽ ghé đến. 


Tục múa lân vào ngày Tết và vào những ngày lễ quan trọng, khai trương thể hiện sự cầu mong của con người vào một mùa mới, thời kì mới ngập tràn trong may mắn, hạnh phúc và thịnh vượng. 



Monday, March 31, 2014

Văn Hóa Việt Nam: Ăn Tết tháng Ba

On the third day of the third lunar month, some Vietnamese families celebrate another Tết (New Year) with two vegan desserts: glutinous rice floating dumpling and sweet dumpling. These offerings are meant to reflect people's gratitude and respect for the gods and their ancestors. 

Ăn Tết tháng Ba 
K.H. (Depplus.vn/MASK)

(ĐP) - Đầu tháng Ba âm lịch, người Việt Nam lại đón một cái Tết khác: Tết Hàn Thực. Vào ngày này, trong mỗi gia đình không thể thiếu đĩa bánh trôi, bát bánh chay cúng gia tiên. Tuy rằng cả điển tích ngày Tết và các món ăn đều có bắt nguồn từ Trung Quốc, nhưng theo thời gian đã được Việt hóa gần gũi rất nhiều với đời sống Việt.

Người Việt Nam ăn tết Hàn thực với mục đích chủ yếu là lễ Phật và cúng gia tiên. Hàn thực nghĩa là các món lạnh, các món nguội người Việt hay dùng trong ngày lễ này là bánh trôi, bánh chay. Cũng vì lẽ đó, không biết từ bao lâu, cái tên Hàn thực đã trở nên xa lạ, thay vào người Việt gọi ngày ấy bằng từ ngữ gần gũi hơn, thuần Việt hơn - Tết bánh trôi bánh chay.

Tục ăn bánh trôi, bánh chay tương truyền có từ đời Hùng Vương. Xưa kia, người ta không ăn bánh trôi, bánh chay trước ngày mồng 3 tháng 3 vì ngày hôm đó có bánh mới, bắt đầu dâng tổ tiên, dâng Thổ công, mà theo truyền thống của người Việt Nam tới mỗi mùa nào đó, có hoa quả, thực phẩm gì đầu mùa, người ta chưa được phép ăn nếu chưa làm lễ cúng. Điều đó thể hiện lòng kính trọng, biết ơn đối với thần linh, tổ tiên, đã trở thành nếp nghĩ trong mỗi con người. 

Từ những ngày đầu tháng, các bà các mẹ đã rục rịch chọn mua gạo nếp, đỗ ngon về xay bột, đồ đỗ để làm bánh trôi, bánh chay. Nhà nào vội vàng có thể chạy ù ra chợ, mua lấy cân bột nước, gói đường phên, thêm bọc vừng, bọc dừa về để chuẩn bị sẵn sàng nặn bánh. Việc nặn bánh khá đơn giản, lại vui vẻ nên lũ nhỏ cũng háo hức, xúm vào đòi học.

Bánh trôi nặn viên tròn nhỏ, chỉ nhỉnh hơn ngón tay, thường có nhân bằng đường phên, đôi khi có thể thay bằng mứt sen hay mứt bí lạ miệng. Bánh trôi xếp trên đĩa nhỏ, mỗi đĩa chỉ để hơn chục viên là vừa phải, chấm nhẹ trên mỗi viên vài hạt vừng rang là đã đủ hấp dẫn. Bánh chay lớn hơn bánh trôi một chút, được nặn dẹt, nhân đậu xanh nhào nhuyễn, ăn cùng nước đường, chè hoa cau. Để cho đẹp mắt, người ta còn thường rắc thêm dừa nạo sợi, hay vài hạt đậu xanh lên trên.

Bánh trôi, bánh chay đều chín bằng cách luộc sôi. Luộc bánh trôi phải chờ đủ "ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh" mới hoàn tất. Trước hết phải chờ nước sôi già mới thả bánh, sau phải chờ bánh nổi mới vớt ra thả vào nước lạnh cho săn lại rồi mới vớt ra bày vào đĩa. Từng viên bánh trôi trắng ngần thấm vị ngọt bùi của đường phên, vị dẻo thơm đặc trưng của bột gạo nếp, thêm chút vị vừng quyến luyến. Chỉ ngần ấy thôi cũng đã đủ khiến người ta nuốt nước miếng.

Bánh chay ăn với nước đường trắng đun sôi, hòa chút bột năng cho sánh, thêm nước hoa bưởi, dừa nạo sợi. Bánh có vị ngọt dịu dễ chịu, là món ăn thanh mát rất hợp lý trong tiết đầu tháng ba.

Tết bánh trôi bánh chay là một phong tục đẹp của người Việt. Những chiếc bánh trắng trong, nhỏ bé nhưng mang trong mình hồn nước, kết nối truyền trống văn hóa bao thế hệ Việt Nam.



Tuesday, January 28, 2014

Văn Hóa Việt Nam: Tư duy và ngôn ngữ của người Việt: Cây trái quanh ta (PGS. TS Trịnh Sâm)

For the lunar New Year, Vietnamese often display five different kinds of fruit or so, as an expression of wishes for health and prosperity.

Tư duy và ngôn ngữ của người Việt: Cây trái quanh ta 
PGS. TS Trịnh Sâm

(VH) - Trong quá trình tương tác với tự nhiên, con người thường dùng những hiểu biết về chính cơ thể của mình để phóng chiếu lên hiện thực, ở đây là gọi tên, kiểu như hoa móng tay, lá tóc tiên, nụ cười tươi rói… hoặc định danh theo chiều hướng ngược lại, tức dùng những hiểu biết về tự nhiên, căn cứ vào sự tương đồng để gọi tên các bộ phận cơ thể con người kiểu như lá gan, quả thận, trái cật…

Cách tương tác như thế, tri nhận luận gọi là phương thức ý niệm hóa, rất quen thuộc trong nhiều ngôn ngữ. Cụ thể ở đây, có mối quan hệ giữa con người và cây cỏ, chính xác hơn, những minh họa bên trên có liên quan đến ẩn dụ cuộc đời là cỏ cây, đời người là cây cỏ. Có thể nói, tục giao thừa đi chùa, đình hái lộc; tục ăn trầu, cúng giỗ trầu cau, lễ nghi trầu cau trong cưới hỏi và cả sự tích trầu cau, mang đậm dấu ấn tương tác văn hóa với cỏ cây của người Việt. 

Cho nên không phải ngẫu nhiên, trong những ngày Tết, những dịp lễ nghi quan trọng, nhất là trong những nghi thức có tính chất tâm linh, đời sống của người Việt lại gắn bó với hoa, quả, cây trái đến vậy.

Ngày Tết, từ Nam chí Bắc, tùy thuộc vào cây nhà lá vườn, trên bàn thờ tổ tiên ông bà, thế nào cũng có mâm ngũ quả. Gọi là ngũ quả nhưng không nhất thiết phải đủ năm thứ, có khi nhiều hơn hoặc ít hơn, có khi chỉ một vài loại trái cây phổ biến trong vùng… như mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, thơm (Cầu -Vừa - Đủ - Xài - Thơm), hoặc thêm chùm sung, trái dưa hấu, quả bưởi như ở Nam Bộ, hoặc chỉ dùng một vài loại trái cây như nải chuối, trái bòng ở miền Trung chẳng hạn. Ở Nam Bộ ngoài tục cúng bông, ngày Tết trên bàn thờ không thiếu hai thứ là hoa và nước trắng. Người ta phân biệt rất rõ, hoa cúng và hoa trưng là khác nhau.

Ngày Tết, trong phòng khách, bên hiên, tùy theo điều kiện kinh tế, không gian của mình, nhiều nhà trưng bày nào đào (cây, cành), nào mai (cây, cành) hoặc chậu cúc, chậu thược dược. Những năm gần đây, lại có thêm hoa lan hay hoa ly…

Nam Bộ còn nổi tiếng với nghệ thuật tạo hình bằng hoa trái như hình ghe thuyền, sông núi, bản đồ, hình 12 con giáp khi xuân về… bên cạnh việc tạo hình bằng cây kiểng phổ biến cả nước.

Liệu bạn có hình dung hết độ phong phú trong việc người Việt dùng cây cỏ để đặt tên cho nhiều bộ phận cơ thể con người như đã đề cập ở trên, kiểu như: trái tim, trái gáo (sọ), trái cật, quả tim, quả thận, quả cật, lá gan, lá phổi, lá lách, lá mía, lá sách, buồng phổi, buồng trứng, bắp vế, bắp tay, bắp chân, bầu vú, bầu sữa, quả lê, quả mướp, quả đào, đôi quả hồng đào, núm cau, chủm cau…; cho cả con người kiểu như: cây văn nghệ xanh rờn, cây toán, cây hài, cây tiếu lâm, cây viết trẻ, cây vợt tài năng…?

Nếu như trong văn hóa phương Tây, hai ẩn dụ tri nhận có tính chất bao quát, liên quan đến vấn đề đang bàn là ý tưởng là cây cối (ideas are plants) và ý tưởng là con người (ideas are people), thì trong tiếng Việt hầu như có cả một kho tàng tri thức dân gian được thể hiện trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ, quán ngữ… liên quan đến con người và cây cỏ.

Trước hết ta thử điểm qua các động từ chỉ hoạt động của cây cối được sử dụng cho con người, từ lá rụng, lá rụng về cội, trái quả rụng, hoa rụng… đến tóc rụng, lông rụng, răng rụng; từ cây mọc, hạt giống mọc đến mọc mụn, mọc nhọt, mọc sừng, mọc răng, mọc tóc… 

Một số tính chất, trạng thái của cây cối, hoa quả cũng để chỉ con người như ngực lép, bụng lép, vú lép…; ngực nở, nở gan, nở ruột, nở mặt, nở mày…; tình yêu chín muồi, lập luận sống sượng, bọn trẻ còn non kinh nghiệm, hắn già rơ trong buôn bán, nụ cười tươi rói, lòng ruột héo hon.

Đặc biệt, tiếng Việt hay sử dụng một số tương đồng trải nghiệm kiểu cây cối hoa quả như con người trong một số trường hợp như: người ta chỉ trọng vọng cây đa cây đề, còn mình rơm rác ai mà để ý đến, cây ngay không sợ chết đứng, rồi nam nữ là mận là đào, con gái trưởng thành là tre non đủ lá. Chuyện tình yêu, gia thất là đan sàn, trái quả, ngon dở lại dùng để biện minh cho sự lựa chọn tình cảm: Chẳng thà ăn nửa trái hồng/ Còn hơn ăn cả chùm sung chát lè; chẳng thà ăn cả chùm sung, còn hơn ăn nửa trái hồng dở dang; cùng một hội, một thuyền giống nhau là lòng vả cũng như lòng sung; khuyên ai đó đừng có tò mò, tọc mạch, người ta nhắc nhở đừng có vạch lá tìm sâu.

Các bộ phận của cây cối từ gốc rễ, ngọn ngành, nhánh lá, hoa quả… hay quá trình phát triển từ hạt, mầm, chồi… đến lúc thành cây cao bóng cả, gạo cội… tất cả đều phóng chiếu để chỉ con người hoặc xã hội. 

Có gốc lớn, có gốc gộc, gốc bự là chỉ những ai có thế lực trong xã hội, dùng mất gốc, bật gốc, bứng gốc, quên cội nguồn, quên gốc rễ để phê phán ai quên quê hương bản quán. Khi nói cái gốc của vấn đề, cái gốc của sự việc thì chính là cái cốt lõi nhất, cái căn cơ nhất, còn nói có gốc có ngọn là đề cập đến tính mạch lạc của sự kiện, của cách trình bày, trong khi ai đó phê phán, chỉ là cái ngọn của vấn đề thì quả nhiên là thứ yếu, không phải là cái chính rồi. 

Chuyện tình cảm mà đơm hoa kết trái, hay đâm chồi nẩy lộc, quả là rất tốt đẹp ai ai cũng mơ ước. Còn điều này nữa, truyền thống ngữ văn của phương Đông dùng hoa để biểu trưng cho người phụ nữ, hãy nghe: Anh đừng tham bông quế, bỏ phế bông hoa lài, mai sau quế rụng, bông lài thơm lâu, hay Trách người quân tử bạc tình, chơi hoa rồi lại bẻ cành bán hoa. Còn để chỉ việc hệ trọng trong thiên chức làm mẹ của họ thì dân gian gọi khai hoa nở nhụy hay nở nhụy khai hoa

Trong kho tàng tục ngữ bàn về triết lý sống, chưa có dịp thống kê nhưng hình ảnh cây cối hay những thực thể liên quan đến cây cối quả là không ít: Vắt chanh bỏ vỏ, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa; tre non dễ uốn; một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao...

Lại nữa, một số cách biểu đạt thâm thúy vào bậc nhất khi bàn về sự chia sẻ, tương thân, tương ái rất nhân văn, tiếng Việt lại cũng viện dẫn đến hình tượng cây cối, hoa lá: Lá lành đùm lá rách, hay Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Thế mới biết, bên cạnh văn hóa sông nước, văn hóa cây cỏ có một vai trò hết sức quan trọng trong tư duy và ngôn ngữ của người Việt.


Thursday, August 30, 2012

Văn Hóa Việt Nam: Nguồn gốc lễ Vu Lan


Nguồn gốc lễ Vu Lan
Bài & ảnh: Thi Trân

[VNE] - Nếu ở Tây Phương có ngày Mother's Day (ngày của mẹ), Father's Day (ngày của cha) thì Việt Nam có ngày lễ Vu Lan truyền thống mang ý nghĩ báo hiếu đấng sinh thành, đồng thời nhắc nhở con người tìm về nguồn cội.

Đại đức Thích Nhật Thiện, ban trụ trì chùa Giác Ngộ (quận 10, TP HCM) giải thích, ý nghĩa của "Vu Lan" tức là "cái chậu" (hoặc bồn để đựng hoa quả, phẩm vật dâng cúng chư tăng nhằm cầu siêu cho những vong hồn thoát khỏi địa ngục).

Sunday, February 12, 2012

Văn Hóa Việt Nam: "Vọng cổ" là gì? - The meaning of "Vọng cổ", a Vietnamese traditional music genre

The precursor of the modern-day "vọng cổ" is a song named "Dạ cổ hoài lang," meaning "[hearing] the night drum, yearning for one's beloved." The term "vọng cổ" itself, according to author Trần Phước Thuận, means "reminiscing the past." 

BÀN VỀ XUẤT XỨ VÀ Ý NGHĨA CỦA TỪ "VỌNG CỔ"
Trần Phước Thuận
Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 6 (73) năm 2005

Vọng cổ là một tên gọi rất quen thuộc với người Việt Nam, nhất là ở Bạc Liêu, ai cũng biết nó là một bản nhạc phổ thông nhất và tiêu biểu nhất trong cổ nhạc Nam Bộ. Vọng cổ hiện nay còn là đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu âm nhạc và thực tế đã có nhiều sách vở, nhiều cuộc hội thảo khoa học đề cập đến. Tuy nhiên tên gọi Vọng cổ từ đâu mà có và ý nghĩa đích thực của nó là gì thì đến nay vẫn chưa có lời đáp thỏa đáng.

Lý giải vấn đề này có 2 ý kiến tiêu biểu. Một là, ông Cao Kiến Thiết (1) cho rằng: “Theo ba tôi kể thì năm 1919 thầy Thống tức ông Trần Xuân Thơ (2) người miền Bắc, giỏi chữ Nho, ngụ tại An Trạch Đông, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã đề nghị ba tôi thay chữ Dạ cổ (tiếng trống đêm) thành Vọng cổ (tiếng trống vọng lại). Lý do là ba tôi lấy điển tích “Tô Huệ chức cẩm hồi văn” làm nội dung của bài ca và bản nhạc. Bởi lòng Tô Huệ khi chức Cẩm hồi văn thì nghe tiếng trống đánh từ xa vọng lại, chứ không phải là tiếng trống đêm, cho nên chữ Dạ cổ thì tối nghĩa còn chữ Vọng cổ thì càng làm rõ điển tích này đã chọn. Và trong cuộc họp đó ba tôi đã đồng ý đổi chữ Dạ cổ hoài lang thành Vọng cổ hoài lang, nghĩa là theo tiếng trống vọng lại mà nhớ chồng. Nhưng lúc đó bản Dạ cổ hoài lang đã được phổ biến rộng rãi ở nhiều nơi, nên phải mất thời gian khá lâu mới thống nhất được tên gọi “Vọng cổ”. Đây là lời phát biểu của ông Cao Kiến Thiết trong cuộc hội thảo khoa học về Cao Văn Lầu tổ chức tại Bạc Liêu năm 1989 (3).

Hai là, nhạc sĩ Trần Tấn Hưng (4) nói rằng: “Chính soạn giả Trịnh Thiên Tư (5) trong buổi lễ giỗ tổ cổ nhạc ở Bạc Liêu năm 1935 đã đề nghị với ông Sáu Lầu và mọi người như sau: Bản nhạc gốc 20 câu của ông Sáu vẫn nên gọi là Dạ cổ hoài lang vì đó chính là cái tên gốc, cái tên lịch sử không nên sửa đổi. Hơn nữa nhớ chồng lúc ban đêm là điều thích hợp với người chinh phụ, lại hợp với nội dung bản nhạc của ông Sáu. Chúng ta không thể lấy ý nghĩa và hoàn cảnh của nàng Tô Huệ như thầy Thống đã nói lúc trước để sửa đổi cái tên Dạ cổ hoài lang, vì đây là hai tác phẩm khác nhau, cũng như không thể lấy Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để sửa Truyện Kiều của Nguyễn Du được. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay bản Dạ cổ hoài lang đã được biến thể sang nhịp 8, vậy cũng nên dùng 2 chữ Vọng cổ để đặt tên cho các bản đã được canh tân này. Nhưng Vọng cổ do tôi đề nghị hôm nay cũng không theo nghĩa “tiếng trống vọng lại” mà lại mang ý nghĩa “trông về truyền thống xưa”, vì các bản nhịp 8 tuy chữ đàn đã khác xa bản gốc, nhưng vẫn từ Dạ cổ hoài lang mà ra, vì vậy “truyền thống xưa” ở đây chính là bản Dạ cổ hoài lang. Ý kiến của ông Trịnh Thiên Tư được ông Sáu cùng mọi người chấp thuận và hoan nghênh nhiệt liệt. Và cũng từ đó đến nay mọi người đều gọi bản nhạc gốc là Dạ cổ hoài lang và gọi chung các bản được canh tân là Vọng cổ”.

Như vậy, từ Vọng cổ được xuất hiện do lời đề nghị của hai ông Trần Xuân Thơ và Trịnh Thiên Tư, nhưng từ Vọng cổ được sử dụng là của ông Tư hay ông Thơ? Muốn giải quyết vấn đề này ắt hẳn phải xác định cái nghĩa đang được sử dụng của nó, nói cách khác bản Vọng cổ ngày nay - cái tên của nó mang ý nghĩa gì?

Như trên đã nói từ Vọng cổ (望 鼓) của ông Trần Xuân Thơ, thì có nghĩa là “tiếng trống vọng lại”, còn từ Vọng cổ (望 古) của ông Trịnh Thiên Tư có nghĩa là “trông về xưa”. Như vậy về phần nghĩa của hai từ này không dính dáng với nhau nhưng phần âm lại đồng âm nên thường hay nhầm lẫn. Muốn xác định từ Vọng cổ mang ý nghĩa nào, tốt nhất là dùng tên gốc của nhạc bằng chữ Hán để chứng minh và dùng phương pháp so sánh để giải quyết vấn đề này?

Hiện nay có một bản rất phổ thông gọi là Tân cổ giao duyên (新 古 交 緣), bản được thành lập do phương pháp gối đầu Vọng cổ của soạn giả Mộng Vân và sau đó được nhiều soạn giả khác thực hiện bằng cách kết hợp giữa tân nhạc và bản Vọng cổ. Chúng tôi tạm mượn cái tên Tân cổ giao duyên này để làm cơ sở để truy tìm ra cái nghĩa đang được sử dụng của từ Vọng cổ. Tạm nêu ra hai trường hợp như sau:

1/ Nếu từ cổ ở đây có nghĩa là cái trống thì Tân cổ giao duyên (新 鼓 交 緣) sẽ được hiểu là “cái trống mới giao duyên”. Nghĩa là không phù hợp với kết cấu và nội dung của bản Tân cổ giao duyên. Nếu cố hiểu là “mới” và “cái trống” giao duyên với nhau lại càng không có ý nghĩa gì cả.

2/ Nếu từ cổ ở đây có nghĩa là xưa thì Tân cổ giao duyên (新 古 交 緣) theo nghĩa đen là “mới” và “cũ” giao duyên, nghĩa bóng muốn nói tân nhạc và cổ nhạc cùng hòa hợp, thật đúng với kết cấu và nội dung bản Tân cổ giao duyên.

Rõ ràng là trường hợp thứ nhất không hợp lý. Và như vậy, cổ ở đây được xác định là xưa thì Vọng cổ phải mang nghĩa “trông về xưa” hay “chiêm ngưỡng truyền thống xưa”, ý nghĩa này là do ông Trịnh Thiên Tư đề xuất.

Tóm lại: Từ Vọng cổ có xuất xứ tại Bạc Liêu và được sử dụng từ tháng 08 năm ất Hợi (1935) do lời đề nghị của soạn giả Trịnh Thiên Tư.

Căn cứ vào lời phát biểu của ông Tư và xét theo thực tế thì Dạ cổ hoài lang và Vọng cổ là hai bản khác nhau, nhưng Vọng cổ do Dạ cổ hoài lang mà có, vì vậy Vọng cổ phải mang ý nghĩa “trông về truyền thống xưa”.

CHÚ THÍCH
(1) Con trai lớn của ông Cao Văn Lầu.
(2) Thầy tuồng đoàn hát bộ của ông Ba Xú, một trong những đoàn hát đầu tiên ở Bạc Liêu.
(3) Từ Dạ cổ hoài lang, Nxb. Mũi Cà Mau, 1992, tr.84-85.
(4) Nhạc sĩ Năm Nhỏ (1921-1982), học trò nhỏ nhất của Nhạc Khị, cũng là người thừa kế thờ Tổ Cổ nhạc Bạc Liêu sau khi thầy qua đời.
(5) Tác giả sách Ca nhạc cổ điển - 1962, nhà ở xã Vĩnh Mỹ, huyện Vĩnh Lợi tỉnh Bạc Liêu, ông cũng là bạn đồng môn với nhạc sĩ Cao Văn Lầu.

Monday, January 23, 2012

Văn Hóa Việt Nam: Năm Rồng, tản mạn về rồng - The revered dragon


Dragon is a  highly revered mythical creature, often associated with power, courage, nobility, and wisdom. In fact, it is said that the English word "dragon" derives from a Greek word - δράκων (drákōn) - which in turn comes from the verb δρακεῖν (drakeîn), meaning "to see clearly". May all be blessed to "see clearly" in this auspicious Year of the Dragon.

NĂM RỒNG, TẢN MẠN VỀ RỒNG

(Tổng hợp) - Rồng, chữ Hán là Long, chữ Phạn là Nâga, là một loài sinh vật thuộc thế giới vô hình, và cũng là một loài trong Tứ Linh: Long, Lân, Qui, Phụng (Rồng, Lân, Rùa, Phượng). Rồng trong tiếng Anh (dragon) bắt nguồn từ chữ Hy Lạp, vốn có nghĩa là “con trăn”. Do đó, rồng trong các chuyện thần thoại phương Tây mô hình cơ bản là loài rắn.

Theo thần thoại, rồng có hình dạng rất lạ kỳ: đầu rồng giống như đầu đà, sừng giống như sừng nai, cổ giống như cổ rắn, bụng giống như bụng con giao [thuồng luồng], mắt giống mắt thỏ, tai giống tai bò, chân giống chân cọp, móng giống móng chim ưng, vảy rồng giống như vảy cá ly.

Qua các thời đại, hình thù rồng trong trí tưởng tượng của loài người không ngừng biến đổi. Chẳng hạn như hình rồng ở thời kỳ vương triều New Babilon xa xưa (trước công nguyên 6 thế kỷ) có bốn chân và đôi cánh, trên mình có đầy vẩy. Rồng trong sách Kinh Thánh được miêu tả thành loài rắn già có nhiều đầu. Vì rồng vừa có ý nghĩa thần linh phù hộ cho con người, vừa có thể làm cho loài người khiếp đảm kinh hồn, nên từ lâu, rồng cũng được coi là tượng trưng cho dũng cảm, thiện chiến. Trong sử thi (trường ca) Iryande của Homeros, huy hiệu trên chiếc mộc của quốc vương Hy Lạp, người chỉ huy trận đánh thành Troy hồi đó, là hình một con rồng màu xanh lam có 3 đầu. Về sau, cướp biển ở miền bắc châu Âu cũng thường vẽ hình rồng trên mũi tàu và những chiếc mộc của đồng bọn mình. Nước Anh trước khi bị người Normandie chinh phục, cha của quốc vương Atjeh, cũng dùng hình rồng làm phù hiệu chính trên cờ xí của quân đội Hoàng gia. Cho tới thế kỷ 20 này, hình rồng vẫn còn là tượng trưng của hoàng tử Wells ở nước Anh.

Rồng là vua của loài có vảy, có tài biến hóa, làm tối được, làm sáng được, làm lớn được, làm nhỏ được, nhằm tiết xuân phân thì lên trời, nhằm tiết thu phân thì xuống biển hay xuống đất. Kinh Phật nói: “Long thường tại định, vô hữu bất định thì,” nghĩa là: Rồng thường ở vào thiền định, không có lúc nào chẳng thiền định.

Có rất nhiều loại rồng, được phân ra tùy theo màu sắc, tùy theo hình dáng đầu rồng hoặc tùy theo phận sự của nó:

I. Phân loại theo màu sắc: Có 5 loại:

Rồng trắng: Bạch long, toàn thân màu trắng, chúng ta thấy trong BQĐ [Bát Quái Đài] Tòa Thánh Tây Ninh có 8 con bạch long nằm dưới Quả Càn Khôn, đầu hướng ra ngoài như để bảo vệ Quả Càn Khôn.

Rồng vàng: Huỳnh long, toàn thân màu vàng, chúng ta thấy 8 rồng vàng quấn trên 8 cột chung quanh Quả Càn khôn tại BQĐ, và 2 cây cột tại Cung Đạo.

Rồng xanh: Thanh long, toàn thân màu xanh sậm, chúng ta thấy 18 con rồng xanh quấn trên 18 cây cột nơi CTĐ [Cửu Trùng Đài].

Rồng đỏ: Xích long, toàn thân màu đỏ, quấn trên hai cây cột dưới bao lơn trước Tòa Thánh.

Rồng đen: Hắc long, toàn thân màu đen.

II. Phân chia theo hình dáng: 3 loại:

Rồng trẻ, đầu không có sừng, gọi là Ly long.

Rồng sống được 500 năm thì mọc sừng, gọi là Cù Long.

Rồng sống được 1000 năm trở lên thì có sừng dài và mọc thêm cánh, gọi là Ứng long.

III. Phân chia theo nhiệm vụ: có 4 loại:

Thủ Thiên cung long: Rồng ở cõi Trời, gìn giữ Thiên cung.

Hành võ long: Rồng làm mưa (Hành là làm, võ hay vũ là mưa). Rồng nầy có hai hạng:

Thiện long thì làm cho mưa thuận gió hòa.

Ác long thì làm cho mưa to, gây lũ lụt,

Địa long: Rồng ở dưới đất sâu, làm hầm khoét hang, làm thành sông, hồ, biển.

Phục tạng long: Rồng giữ gìn kho tàng của vua Chuyển Luân Thánh vương và các nhà phước đức lớn.

■ Tương truyền, rồng ở đáy biển, có lầu đài cung điện, có tổ chức vua, quan, quân lính. Rồng làm vua gọi là Long vương, cung điện của Long vương là Long cung, các quan của vua rồng là loài cá lớn, quân lính là các loài cá nhỏ.

Theo truyện Phong ThầnTây Du Ký, có Tứ Hải Long vương là 4 vị Long vương ở bốn biển:

Đông Hải Long vương: ở biển Đông tên Ngao Quảng.

Nam Hải Long vương: ở biển Nam tên Ngao Thuận.

Tây Hải Long vương: ở biển Tây tên Ngao Khâm.

Bắc Hải Long vương: ở biển Bắc tên Ngao Nhuận.

■ Cũng trong truyện Tây Du, con Bạch mã (ngựa trắng) mà Tam Tạng cỡi đi Tây phương thỉnh kinh là do một con tiểu long (rồng nhỏ) biến thành. Con tiểu long nầy vốn là Thái tử, con của Bắc Hải Long vương Ngao Nhuận, phạm tội nặng, bị bắt treo lên chờ xử trảm. May nhờ Đức Quan Âm Bồ Tát đi ngang, tiểu long van xin cứu mạng. Đức Quan Âm Bồ Tát thương tình, tâu xin Thượng Đế tha chết cho tiểu long để sau nầy bắt tiểu long biến thành bạch mã, đỡ gót cho Tam Tạng thỉnh kinh. Nhờ công lao chuộc tội nầy, sau khi thỉnh kinh xong, bạch mã được biến trở lại thành rồng, trở về Long cung.

■ Long Nữ là con gái của Đệ tam Thái Tử của Nam Hải Long vương Ngao Thuận, ngày kia hóa thành con cá dạo chơi nơi mé biển, bị một ông chài bắt được, đem ra chợ bán. Đức Quan Âm Bồ Tát biết được, sai Thiện Tài đồng tử hóa ra một người thường, đi đến chợ mua con cá ấy, rồi đem xuống biển Nam thả xuống.

Nam Hải Long vương nhớ ơn Bồ Tát cứu tử cháu nội gái của mình, nên dạy Long Nữ đem cục ngọc Dạ Minh Châu đến dâng tặng Bồ Tát để Bồ Tát đọc sách ban đêm không cần đèn.

Long Nữ đến dâng ngọc xong, lòng hết sức cảm phục Bồ Tát nên xin quy y và được Bồ Tát thâu làm đệ tử. Từ ấy, Thiện Tài đồng tử và Long Nữ luôn luôn theo bên cạnh để phụng sự Bồ Tát.

Trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Long Nữ thay mặt Đức Quan Âm Bồ Tát giáng trần để làm tướng soái cho Đức Chí Tôn khai đạo, cứu độ các tín đồ nữ phái. Đó là bà Nữ Đầu Sư Hương Thanh (1874-1937).

Trong bài kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế có câu: "Thời thừa lục long" nghĩa là thường cỡi sáu rồng. Đây là nói tượng của quẻ CÀN, Càn là Trời, gồm 6 vạch dương (vạch liền), tượng trưng bằng 6 con rồng, vì rồng thuộc dương.

Do đó, trên plafond dù của Tòa Thánh Tây Ninh có bông hình 6 con rồng đoanh nhau theo ba màu đạo để tượng trưng 6 vạch dương của quẻ CÀN: 2 con rồng màu vàng, 2 con rồng màu xanh và 2 con rồng màu đỏ.

Rồng lúc đầu là biểu tượng chung của tập thể thị tộc, có ý nghĩa là tài giỏi, cao quý, đẹp đẽ, nên có những thành ngữ như “mong con sớm trở thành rồng”, “mong được chú rể cưỡi rồng”, “dịp may chẳng khác nào “rồng mây gặp hội”, “rồng tới nhà tôm”, “đó là chốn rồng ẩn hổ náu” (tàng long ngọa hổ), “nơi ấy long xà hỗn tạp”, “chữ viết đẹp như rồng bay phượng múa” v.v. . Nhưng dần dần về sau, các giới cầm quyền phong kiến chiếm độc quyền sử dụng danh từ và đồ án rồng, khiến rồng trở thành tượng trưng cho uy quyền, cao sang của hoàng tộc. Người đầu tiên chiếm địa vị độc tôn này là Lưu Bang nhà Hán. Từ đó về sau, bất cứ ai hễ lên ngôi vua nắm quyền cai trị đất nước là tự cho mình là rồng thật. Áo vua được gọi là long bào, mũ vua được gọi là long quân, giường vua ngủ được gọi là long sàng, sân vua được gọi là long đình, xe vua dùng được gọi là long xa, thuyền vua ngự được gọi là thuyền rồng... v.v. Như ai nấy đều biết, triều đình Mãn Thanh trước khi bị lật đổ, từng dùng hình rồng làm huy hiệu của hoàng tộc mình. Cột trụ cung điện, bia trụ, trang phục, đồ dùng của nhà vua đều có chạm trổ, tô vẽ, thêu thùa, hình rồng để làm tăng thêm vẻ sang trọng, quyền quý. Triều đình bá quan văn võ, dù chức tước cao tới mấy, cũng không ai được quyền mặc áo long bào, nhiều nhất chỉ có thể mặc áo “mãng bào”. Triều phục của các quan đại thần có thể thêu rắn thêm chân, nhưng không được thêu thành hình mãng xà chân có 5 vuốt như vuốt rồng, tượng trưng của nhà vua.

Trong lịch sử Việt Nam, lúc Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Lý Thái Tổ, thấy đất Hoa Lư chật hẹp không phải là nơi đóng đô, muốn dời đến La Thành. Khi nhà vua đến La Thành xem xét, vua thấy một con rồng vàng xuất hiện, từ La Thành bay thẳng lên trời. Lý Thái Tổ cho đó là điềm lành, nên chọn La Thành làm nơi đóng đô, đổi tên lại là Thăng Long (Rồng bay lên) để kỷ niệm ngày thấy rồng vàng bay lên trời. Nhà Lý đóng đô tại Thăng Long, truyền ngôi được 9 đời, kéo dài 215 năm.

Thực tình mà nói, chẳng phải chỉ riêng có người Trung Quốc mới coi rồng là vật tổ của mình. Ngay ở Việt Nam, ở Nhật Bản và các nước khác ở vùng Đông nam Á, cũng rất kính trọng rồng. Bạn không thấy nước Bhutan, một nước nhỏ nằm giữa hai nước Trung Ấn, tự nhận mình là quốc gia Thần Rồng. Trên quốc kỳ của họ có hình tượng một con rồng, chẳng khác nào hình rồng của người Trung Hoa ngày nay..

Đối với các quốc gia ở Phương Đông, rồng là sinh vật có tính chất thần linh, rồng ở Trung Quốc và Việt Nam tượng trưng cho hoàng tộc và quyền quý. Rồng ở Nhật Bản có thể biến hóa thành lớn nhỏ tùy ý, thậm chí có thể ẩn thân, tàng hình. Rồng của Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam hiện nay đều không có cánh, nhưng có thể lên trời, xuống biển, cưỡi mây đạp gió, tung hoành bốn phương. Người Trung Quốc ngày nay bất cứ là sinh sống ở đại lục, Đài Loan hay ở hải ngoại, đều cho rằng mình là con cháu của Hoàng đế - Viêm đế, là dòng giống Rồng. Người Việt Nam bao đời qua cũng tự nhận mình là con Rồng cháu Tiên.

Ngày nay, khoa học tiến bộ, nhận thức của loài người có khác xa với người đời thượng cổ. Họ không còn nhắm mắt đi mê tín những điều dị đoan huyền hoặc. Nhưng đôi với rồng, nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Trung Quốc vẫn coi đó là tượng trưng cho tài giỏi, cao quý, là điềm lành, cho nên ngày nay, trong những buổi lễ quan trọng, như chúc mừng năm mới, nghênh đón tân khách hay hôn lễ giữa hai họ, chúng ta vẫn có thể trông thấy những hình thức múa rồng hay hình tượng rồng và phượng.

Ngày nay, nói mình là con cháu giống rồng, điều đó có nghĩa là muốn nói lên rằng tổ tiên mình là giống người tài giỏi, dân tộc mình có một lịch sử văn hóa lâu dài, nhân dân mình có một truyền thống vẻ vang. Hôm nay, người viết mong rằng, những người con cháu dòng giống Tiên Rồng bất cứ hiện đang sinh sống ở trong nước, nơi quê cha đất tổ, hay đang phấn đấu ở hải ngoại, nơi đất khách quê người, dù sao cũng nên hãy sống sao cho ra sống, sống sao không làm nhơ danh cha ông tiên tổ, dòng dõi giống rồng, sống sao để khỏi hổ thẹn với đất nước non sông.

http://cadn.com.vn/News/Suc-Khoe/2012/1/14/71553.ca
http://caodaism.org/CaoDaiTuDien/r/r2-004.htm

Saturday, January 21, 2012

Văn Hóa Việt Nam: Bánh phồng nếp quê - Sticky rice cracker

Sticky rice cracker (bánh phồng) is a traditional food in southwestern Việt Nam, especially prepared and enjoyed around the lunar New Year.

Bánh phồng nếp quê
Lê Thúy Bảo Liên

Bánh phồng - món ăn đặc sản miền Tây Nam bộ. Từ đầu tháng chạp âm lịch, bà con ở nông thôn khởi sự làm bánh phồng chuẩn bị ăn Tết. Nghề làm bánh phồng đang dần ít đi, phần vì bánh mứt đã quá phong phú, phần vì đó là nghề cơ cực và dày công.

Khi những cánh đồng lúa nếp gặt xong, mùa bánh phồng nếp bắt đầu. Hương thơm nồng nàn của nếp mới từ ngoài đồng tràn về khắp ngõ xóm, quyện trong cái nắng hanh hanh mùa gió chướng len vào từng căn bếp nhỏ.

Một chút bí quyết...

Nếp ngâm từ chập tối chiều hôm trước, đến 5 giờ sáng đem ra tút thật sạch rồi xôi lên. Xôi tức là nấu cách thuỷ, nấu bằng nồi đất, độ nóng đều và lan tỏa, xôi sẽ chín đều và ngon hơn. Xôi chín đổ ngay vào cối, quết khi xôi còn nóng hổi bột mới mau dẻo.

Những đứa con xa quê khó mà quên được tiếng chày quết bánh phồng mùa giáp Tết. Tiếng bình bịch vang đều khắp cả xóm từ sáng tinh mơ. Tiếng chày âm âm trong giấc chiêm bao tuổi thơ và vang mãi trong nỗi nhớ của người xa quê.

Bánh phồng có ngon, khi nướng có chuồi to hay không chủ yếu là nhờ quết kỹ, quết khéo. Chỉ có bàn tay kinh nghiệm của người thợ vùa bột mới cảm nhận được khi nào thì bột đủ dẻo, vừa tới bánh. Lúc này, bột sẽ được nêm đường, nước cốt dừa. Khi xem thợ làm bánh, bạn sẽ không thấy có bột đậu nành đâu cả, nhưng có đó! Với chừng 200g đậu nành ngâm, xay nhuyễn nêm vào một cối bột sẽ giúp cho bánh chuồi, phồng to hơn. Đó là bí quyết của nghề làm bánh phồng mà chẳng ai nói ra.

Và một chút khéo léo...

Khi bột được quết thấm đều gia vị rồi sẽ được bắt thành viên, đem cán. Cán bánh cho nhanh, cho khéo không phải ai cũng làm được. Tay ngang vào cán, bánh sẽ không tròn, không mỏng đều, cán được mươi cái đã mỏi nhừ cả cánh tay. Công việc cần sự khéo léo, sự dẻo dai kiên trì nên hầu như chỉ có phụ nữ làm được. Cán bánh phải thật đều tay, nếu dày bánh sẽ ướt và dính, nếu mỏng bánh khô giòn dễ bể.

Ngày xưa thú lắm, các cô thôn nữ thường tụ họp lại một nhà, cán bánh vần công cho nhau, cán thi xem ai nhanh hơn, khéo hơn. Cuộc chuyện trò ở bàn cán bánh bao giờ cũng vui và rôm rả nhất.

Bánh cán xong mớ nào đem phơi ngay mớ nấy. Chiếu dùng để phơi phải là chiếu mới, được xử lý sạch trước khi phơi bánh. Nếu không, sợi gai dệt chiếu sẽ dính bánh, nhìn không đẹp. Nắng tốt, phơi chừng nửa ngày là khô, gỡ bánh ra, phải xốc xới và quạt cho thật nguội mới sắp bánh. Nếu không, bánh phồng sẽ bị chảy đường và dính khó gỡ.

Bánh phồng nếp ngon là phải dày mịn, ít lẫn hột nếp, màu đục. Phải có kinh nghiệm lâu năm trong nghề mới làm được như vậy.

Bánh phồng – món nguồn cội

Bánh phồng mì cách làm tương tự như bánh phồng nếp nhưng nguyên liệu là khoai mì. Có hai loại: bánh phồng ngang không có sữa, nướng lên mới ăn được, bánh phồng sữa để ăn sống rất béo và ngon. Cách nêm bánh phồng sữa khác với bánh phồng nếp, nhiều đường, nhiều nước cốt dừa hơn. Cứ 10kg khoai mì thì nêm tới 6kg đường cát trắng... Bánh phồng là món ăn dân dã rẻ tiền nên Tết năm nào cũng bán đắt. Việt kiều về thăm quê ai cũng tìm mua bánh phồng, lớp ăn, lớp mang đi làm quà cho bà con bên đó để thưởng cái hương vị độc đáo của quê hương miền Tây Nam bộ.

Bánh phồng Trà Vinh ngon nổi tiếng. Lò bánh dì Ba Cúc ở ấp Đa Cần, xã Hoà Thuận, huyện Châu Thành có thị trường mở rộng gần khắp miền Tây. Những ngày cận Tết, lò ra bánh trên 10 thiên mỗi ngày mà cũng không kịp bỏ mối.

Ngày nay, những lò bánh chuyên nghiệp đã trang bị máy quết bánh. Một ngày nào đó, khó còn được nghe tiếng chày rộn rã. Rồi đây than tổ ong hoặc bếp ga thay dần bếp củi với mùi khói nồng nàn. Và chắc một điều, bếp ga không thể nào nướng được cái bánh phồng chuồi to như nướng lửa rơm.

Ngày tết, mâm cơm cúng ông bà ở quê thường có dĩa bánh phồng - như món nguồn cội. Dĩa bánh thật to, tròn đầy như sự ước mong đầy đủ, viên mãn, cầu xin cho những mùa lúa trúng tràn đồng.

http://sgtt.vn/Huong-vi-que-nha/Am-thuc/81713/Banh-phong-nep-que.html

Tuesday, December 20, 2011

Văn Hóa Việt Nam: Nhà thờ Sài Gòn rực rỡ chờ đón Giáng sinh - Churches in Sài Gòn this Christmas 2011

Churches in Sài Gòn are ready for Christmas celebration this weekend. Though primarily a Buddhist country, Việt Nam also embraces Christianity, which enhances the nation's beauty with spiritual and traditional values.

[VNAC] Từ thế kỷ thứ 16, Thiên Chúa giáo đã là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân Việt Nam, dù nước ta đa số theo truyền thống Phật giáo và Nho giáo. Tinh thần bao dung, hòa đồng, rộng lượng... là một điểm son nên mãi mãi duy trì, bởi chia rẽ và ngăn cách không bao giờ có chỗ đứng trong dòng sinh mệnh của dân tộc.

Nhà thờ Sài Gòn rực rỡ chờ đón Giáng sinh
Thu Huyền

Bất kể bạn là ai! Người “ngoại đạo” cũng có thể đến nhà thờ để cùng hòa vào không khí trang nghiêm của đêm Giáng sinh, cùng nguyện cầu đến Chúa Hài Đồng về sự an lành cho mình, cho người thương yêu, cho toàn thế giới và toàn nhân loại...

Nhà thờ Ba Chuông, nhà thờ Nam Hòa, nhà thờ Đức Bà, nhà thờ Tân Định…, tất cả đã tràn ngập sắc màu, trang hoàng lộng lẫy chuẩn bị cho Giáng sinh vào cuối tuần này.

Nhà thờ Đức Bà - Đồng Khởi, Quận 1

Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp - 38 Kỳ Đồng, Quận 3

Nhà thờ Nam Hòa - cư xá Bắc Hải, Quận 10

Nhà thờ Ba chuông, đường Lê Văn Sĩ - Quận 3, lung linh trong ánh đèn




Những hang đá được trang trí đầy sắc màu....
 

Cây thông tại nhà thờ Thanh Đa được trang hoàng lộng lẫy

http://yeudulich.vn/Chi-Tiet-Tin/11/2044/Nha_tho_Sai_Gon_ru_ro_cho_don_giang_sinh.html

Monday, November 28, 2011

Văn Hóa Việt Nam: Nguồn gốc một số địa danh miền Nam (Hồ Đình Vũ)

An essay on the interesting - and often practical - roots and meanings of some locales in southern Việt Nam.

LỊCH SỬ CÁC ĐỊA DANH
Hồ Đình Vũ

Sơ lược về nguồn gốc một số địa danh miền Nam

    Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó... riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc; nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy? Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn “Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ” của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình. Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác - để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.

Phần 1: Tên do địa hình, địa thế

Bắt đầu bằng một câu hát dân gian ở vùng Ba Tri, tỉnh Bến Tre:
"Gió đưa gió đẩy
...
về giồng ăn dưa..."

     Giồng là chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó nông dân cất nhà ở và trồng rau, đậu, khoai củ cùng một số loại cây ăn trái. Bởi vậy nên mới có bài hát: "Trên đất giồng mình trồng khoai lang..." Một con giồng có thể bao gồm một hay nhiều xã. Ở Bến Tre, Giồng Trôm đã trở thành tên của một quận (huyện). Lại nhắc đến một câu hát khác: "Ai dzìa Giồng Dứa qua truông Gió rung bông sậy, bỏ buồn cho em..."

Giồng Dứa ở Mỹ Tho, khoảng từ chỗ qua khỏi ngã ba Trung Luơng đến cầu Long Định, ở bên phải quốc lộ 4 là Giồng Dứa. Sở dĩ có tên như thế vì vùng này ở hai bên bờ sông có nhiều cây dứa. (Dứa đây không phải là loại cây có trái mà người miền Nam gọi là thơm, khóm. Đây là loại cây có lá gai dáng như lá thơm nhưng to hơn và dày hơn, màu xanh mướt. Lá này vắt ra một thứ nước màu xanh, có mùi thơm dùng để làm bánh, đặc biệt là bánh da lợn).

Vừa rồi có nhắc đến truông, hồi xưa về Giồng Dứa thì phải qua truông, vậy truông là gì?

     Truông là đường xuyên ngang một khu rừng, lối đi có sẵn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ. Ở vùng Dĩ An có truông Sim. Ở miền Trung, thời trước có truông nhà Hồ. 

     "Thương em anh cũng muốn vô Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang" Tại sao lại có câu ca dao này? Ngày xưa truông nhà Hồ thuộc vùng Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, còn gọi là Hồ Xá Lâm. Nơi đó địa hình trắc trở, thường có đạo tặc ẩn núp để cướp bóc nên ít người dám qua lại.
     
      Phá là lạch biển, nơi hội ngộ của các con sông trước khi đổ ra biển nên nước xoáy, sóng nhiều thường gây nguy hiểm cho thuyền bè. Phá Tam Giang thuộc tỉnh ThừaThiên, phía bắc của phá Tam Giang là sông Ô Lâu đổ ra biển, phía nam là sông Hương đổ ra cửa Thuận An.

      Bàu là nơi đất trũng, mùa mưa nước khá sâu nhưng mùa nắng chỉ còn những vũng nước nhỏ hay khô hẳn. Khác với đầm, vì đầm có nước quanh năm. Ở Sài Gòn, qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền chừng 1 km về hướng Hóc Môn, phía bên trái có khu Bàu Cát. Bây giờ đường xá được mở rộng, nhà cửa xây rất đẹp nhưng mùa mưa vẫn thường bị ngập nước. Ở Long Khánh có Bàu Cá, Rạch Giá có Bàu Cò.

     Đầm chỗ trũng có nước quanh năm, mùa mưa nước sâu hơn mùa nắng, thường là chỗ tận cùng của một dòng nước đổ ra sông rạch hoặc chỗ một con sông lở bờ nước tràn ra hai bên nhưng vẫn dòng nước vẫn tiếp tục con đường của nó. Ở Cà Mau có Đầm Dơi, Đầm Cùn. Ở quận 11 Sài Gòn có Đầm Sen, bây giờ trở thành một trung tâm giải trí rất lớn.

     Bưng từ gốc Khmer là bâng, chỉ chỗ đất trũng giữa một cánh đồng, mùa nắng không có nước đọng, nhưng mùa mưa thì ngập khá sâu và có các thứ lác, đưng... mọc... Ở Ba Tri, tỉnh Bến Tre, có hai bưng là Bưng Trôm và Bưng Cốc.

      Láng chỗ đất thấp sát bên đường nước chảy nên, do nước tràn lên làm ngập nước hoặc ẩm thấp quanh năm. Ở Đức Hòa (giữa Long An và Sài Gòn) có Láng Le, được gọi như vậy vì ở láng này có nhiều chim le le đến kiếm ăn và đẻ. Vùng Khánh Hội (quận 4 Sài Gòn) xưa kia được gọi là Láng Thọ vì có những chỗ ngập do nước sông Sài Gòn tràn lên. Người Pháp phát âm Láng Thọ thành Lăng Tô, một địa danh rất phổ biến thời Pháp thuộc.

     Trảng chỗ trống trải vì không có cây mọc, ở giữa một khu rừng hay bên cạnh một khu rừng. Ở Tây Ninh có Trảng Bàng, địa danh xuất phát từ một cái trảng xưa kia có nhiều cỏ bàng vì ở vùng ven Đồng Tháp Mười. Ở Biên Hòa có Trảng Bom, Trảng Táo.

       Đồng khoảng đất rất rộng lớn bằng phẳng, có thể gồm toàn ruộng, hoặc vừa ruộng vừa những vùng hoang chưa khai phá. Một vùng trên đường từ Gia Định đi Thủ Đức, qua khỏi ngã tư Bình Hòa, trước kia toàn là ruộng, gọi là Đồng Ông Cộ. Ra khỏi Sài Gòn chừng 10 km trên đường đi Lái Thiêu có Đồng Chó Ngáp, được gọi như thế vì trước kia là vùng đất phèn không thuận tiện cho việc cày cấy, bị bỏ hoang và rất vắng vẻ, trống trải. Ở Củ Chi có Đồng Dù, vì đã từng dược dùng làm nơi tập nhảy dù. Và to, rộng hơn rất nhiều là Đồng Tháp Mười.

     Hố chỗ đất trũng, mùa nắng khô ráo nhưng mùa mưa có nơi nước lấp xấp. Ở Củ Chi có Hố Bò, vì bò nuôi trong vùng thường đến đó ăn cỏ. Biên Hòa có Hố Nai, là nơi những người Bắc đạo Công Giáo di cư năm 1954 đến lập nghiệp, tạo thành một khu vực sầm uất.

Phần 2: Tên bắt nguồn từ tiếng Khmer

Miền Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người Việt và người Khmer sống chung với nhau,văn hóa đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Điều đó biểu hiện rõ nét qua một số địa danh. Một số nơi, tên gọi nghe qua thì rất Việt Nam nhưng lại bắt nguồn từ tiếng Khmer; người Việt đã Việt hóa một cách tài tình.

     Cần Thơ: Khi đối chiếu địa danh Cần Thơ với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là Prek Rusey (sông tre), không thấy có liên quan gì về ngữ âm, người nghiên cứu chưa thể vội vàng kết luận là Cần Thơ là một địa danh hoàn toàn Việt Nam và vội đi tìm hiểu căn cứ ở các nghĩa có thể hiểu được của hai chữ Hán Việt "cần" và "thơ". Cần Thơ không phải là từ Hán Việt và không có nghĩa.Nếu dò tìm trong hướng các địa danh Việt hóa, người nghiên cứu có thể thấy ngữ âm của Cần Thơ rất gần với ngữ âm của từ Khmer "kìntho", là một loại cá hãy còn khá phổ biến ở Cần Thơ, thông thường được gọi là cá sặc rằn, nhưng người ở Bến Tre vẫn gọi là cá "lò tho". Từ quan điểm vững chắc rằng "lò tho" là một danh từ được tạo thành bằng cách Việt hóa tiếng Khmer "kìntho",người nghiên cứu có thể sưu tầm các tài liệu về lịch sử dân tộc, về sinh hoạt của người Khmer xa xưa trong địa phương này, rồi đi đến kết luận là địa danh Cần Thơ xuất phát từ danh từ Khmer "kìntho".

     Mỹ Tho: Trường hợp Mỹ Tho cũng tương tự. Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, "mỹ" và "tho", không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu thích ứng về lịch sử và sinh hoạt của người Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là "Srock Mỳ Xó" (xứ nàng trắng). Mình gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock,chỉ còn giữ lại Mỳ Xó thôi.

     Sóc Trăng: Theo cố học giả Vương Hồng Sển, đúng ra phải gọi là Sốc Trăng. Sốc Trăng xuất phát từ tiếng Khmer "Srock Khléang". Srock có nghĩa là xứ, cõi. Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Srock Khléang là xứ có kho vàng bạc nhà vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng.Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn. Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt).Đến thời ông Diệm, lại gọi là tỉnh Ba Xuyên, châu thành Khánh Hưng. Bây giờ trở lại là Sóc Trăng.

      Bãi Xàu: Bãi Xàu là tên một quận thuộc tỉnh Sóc Trăng. Đây là một quận ven biển nên có một số người vội quyết đoán, cho rằng đây là một trường hợp sai chính tả, phải gọi là Bãi Sau mới đúng. Thật ra, tuy là một vùng bờ biển nhưng Bãi Xàu không có nghĩa là bãi nào cả. Nó xuất phát từ tiếng Khmer "bai xao" có nghĩa là cơm sống. Theo truyền thuyết của dân địa phương, có địa danh này là vì nơi đây ngày trước, một lực lượng quân Khmer chống lại nhà Nguyễn đã phải ăn cơm chưa chín để chạy khi bị truy đuổi.

     Kế Sách: Kế Sách cũng là một quận của Sóc Trăng. Kế Sách nằm ở gần cửa Ba Thắc (một cửa của sông Củu Long), phần lớn đất đai là cát do phù sa sông Hậu, rất thích hợp cho việc trồng dừa và mía. Cát tiếng Khmer là K'sach, như vậy Kế Sách là sự Việt hóa tiếng Khmer "k'sach".

     Một số địa danh khác: Cái Răng (thuộc Cần Thơ) là sự Việt hóa của "k'ran", tức cà ràn, là một loại bếp lò nấu bằng củi, có thể trước kia đây là vùng sản xuất hoặc bán cà ràn. Trà Vinh xuất phát từ "Prha Trapenh" có nghĩa là ao linh thiêng. Sông Trà Cuông ở Sóc Trăng do tiếng Khmer "Prek Trakum", là sông rau muống (trakum là rau muống). Sa Đéc xuất phát từ "Phsar Dek", phsar là chợ, dek là sắt. Tha La, một địa danh nổi tiếng ở Tây Ninh (Tha La xóm đạo), do tiếng Khmer "srala",là nhà nghỉ ngơi, tu dưỡng của tu sĩ Phật giáo. Cà Mau là sự Việt hóa của tiếng Khmer "Tưck Khmau", có nghĩa là nước đen.

      Phần 3: Địa danh do công dụng của một địa điểm hay do một khu vực sinh sống làm ăn

Đây là trường hợp phổ biến nhất trong các địa danh. Theo thói quen, khi muốn hướng dẫn hay diễn tả một nơi chốn nào đó mà thuở ban đầu chưa có tên gọi,người ta thường hay mượn một điểm nào khá phổ biến của nơi đó, như cái chợ cái cầu và thêm vào một vào đặc tính nữa của cái chợ cái cầu đó; lâu ngày rồi thành tên, có khi bao trùm cả một vùng rộng lớn hơn vị trí ban đầu.

     Chợ: Phổ biến nhất của các địa danh về chợ là chợ cũ, chợ mới, xuất hiện ở rất nhiều nơi. Sài Gòn có một khu Chợ Cũ ở đường Hàm Nghi đã trở thành một địa danh quen thuộc. Chợ Mới cũng trở thành tên của một quận trong tỉnh An Giang. Kế bên Sài Gòn là Chợ Lớn, xa hơn chút nữa là Chợ Nhỏ ở Thủ Đức.

Địa danh về chợ còn được phân biệt như sau:
- Theo loại hàng được bán nhiều nhất ở chợ đó từ lúc mới có chợ, như: Chợ  Gạo ở Mỹ Tho, Chợ Búng (đáng lý là Bún) ở Lái Thiêu, Chợ Đệm ở Long An, Chợ Đũi ở Sài Gòn.
- Theo tên người sáng lập chợ hay chủ chợ (độc quyền thu thuế chợ), như: chợ Bà Chiểu, chợ Bà Hom, chợ Bà Quẹo, chợ Bà Rịa.
- Theo vị trí của chợ, như: chợ Giữa ở Mỹ Tho, chợ Cầu (vì gần một cây cầu sắt) ở Gò Vấp, chợ Cầu Ông Lãnh ở Sài Gòn.

     Xóm: là một từ để phân biệt một khu vực trong làng hay một địa phương lớn hơn, về mục tiêu sản xuất, thương mại hay chỉ đơn thuần về vị trí. Trong một làng chẳng hạn, có Xóm Trên, Xóm Dưới, Xóm Trong, Xóm Ngoài, Xóm Chùa, Xóm Đình... Về các mục tiêu sản xuất và thương mại, ngày nay cách phân biệt các xóm chỉ còn ở nông thôn mà không còn phổ biến ở thành thị. Những địa danh còn sót lại về xóm ở khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn: vùng phụ cận chợ Bà Chiểu có Xóm Giá, Xóm Gà. Gò Vấp có Xóm Thơm. Quận 4 có Xóm Chiếu. Chợ Lớn có Xóm Than, Xóm Củi, Xóm Vôi, Xóm Trĩ (Trĩ là những nhánh cây hay thân cây suôn sẻ to cỡ bằng ngón chân cái, dài chừng 2 mét, dùng để làm rào, làm luới hay làm bủa để nuôi tằm).

     Thủ: là danh từ chỉ đồn canh gác dọc theo các đường sông, vì khá phổ biến thời trước nên "thủ" đã đi vào một số địa danh hiện nay hãy còn thông dụng, như Thủ Đức, Thủ Thiêm, Thủ Ngữ (Sài Gòn), Thủ Thừa (Long An),Thủ Dầu Một (Bình Dương). Đức, Thiêm, Ngữ, Thừa có lẽ là tên những viên chức được cử đến cai quản các thủ này và đã giữ chức vụ khá lâu nên tên của họ đã được người dân gắn liền với nơi làm việc của họ. Còn Thủ Dầu Một thì ở thủ đó ngày xưa có một cây dầu mọc lẻ loi.

     Bến: ban đầu là chỗ có đủ điều kiện thuận tiện cho thuyền ghe ghé vào bờ hoặc đậu lại do yêu cầu chuyên chở, lên xuống hàng. Sau này nghĩa rộng ra cho cả xe đò, xe hàng, xe lam... Cũng như chợ, bến thường được phân biệt và đặt tên theo các loại hàng được cất lên nhiều nhất. Một số tên bến đặt theo cách này đã trở thành tên riêng của một số địa phương, như: Bến Cỏ, Bến Súc, Bến Củi ở Bình Dương. Bến Đá ở Thủ Đức. Bến Gỗ ở Biên Hòa. Ngoài ra bến cũng còn có thể được đặt tên theo một đặc điểm nào ở đó, như một loại cây, cỏ nào mọc nhiều ở đó, và cũng trở thành tên của một địa phương, như: Bến Tranh ở Mỹ Tho, Bến Lức ở Long An (đáng lý là lứt, là một loại cây nhỏ lá nhỏ, rễ dùng làm thuốc, đông y gọi là sài hồ).

     Một số trường hợp khác: có một số địa danh được hình thành do vị trí liên hệ đến giao thông, như ngã năm, ngã bảy, cầu, rạch.. .thêm vào đặc điểm của vị trí đó, hoặc tên riêng của một nhân vật có tiếng ở tại vị trí đó. Ở Sài Gòn có rất nhiều địa danh được hình thành theo cách này: Ngã Tư Bảy Hiền, Ngã Năm Chuồng Chó, Ngã Ba Ông Tạ... Ở Trà Vinh có Cầu Ngang đã trở thành tên của một quận.

Trường hợp hình thành của địa danh Nhà Bè khá đặc biệt, đó là vị trí ngã ba sông, nơi gặp nhau của 2 con sông Đồng Nai và Bến Nghé . Lúc ròng, nước của hai con sông đổ ra rất mạnh thuyền bè không thể đi được, phải đậu lại đợi con nước lớn để nương theo sức nước mà về theo hai hướng Gia Định hoặc Đồng Nai. "Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về." Tương truyền có ông Thủ Huồng là một viên chức cai quản "thủ" ở vùng đó, tham nhũng nổi tiếng. Có lần nằm mơ thấy cảnh mình chết bị xuống âm phủ phải đền trả những tội lỗi khi còn sống. Sau đó ông từ chức và bắt đầu làm phúc bố thí rất nhiều; một trong những việc làm phúc của ông là làm một cái bè lớn ở giữa sông trên đó làm nhà, để sẵn những lu nước và củi lửa. Những ghe thuyền đợi nước lớn có thể cặp đó lên bè để nấu cơm và nghỉ ngơi. Địa danh Nhà Bè bắt nguồn từ đó.

Kết:

Miền Nam là đất mới đối với người Việt Nam, những địa danh chỉ mới được hình thành trong vài thế kỷ trở lại đây nên những nhà nghiên cứu còn có thể truy nguyên ra nguồn gốc và ghi chép lại để lưu truyền. Cho đến nay thì rất nhiều địa danh chỉ còn lại cái tên mà ý nghĩa hoặc dấu vết nguyên thủy đã biến mất theo thời gian. Thí dụ, Chợ Quán ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, bây giờ chỉ biết có khu Chợ Quán, nhà thờ Chợ Quán, nhà thương Chợ Quán... chứ còn cái chợ có cái quán đố ai mà tìm cho ra được. Hoặc Chợ Đũi (có một số người tưởng lầm là Chợ Đuổi vì người buôn bán hay bị nhân viên công lực rượt đuổi) ban đầu chuyên bán đũi, là một thứ hàng dày dệt bằng tơ lớn sợi, bây giờ mặt hàng đó đã biến mất nhưng địa danh thì vẫn còn.

Ngoài ra, đất Sài Gòn xưa sông rạch nhiều nên có nhiều cầu, sau này thành phố được xây dựng một số sông rạch bị lấp đi, cầu biến mất, nhưng người dân vẫn còn dùng tên cây cầu cũ ở nơi đó để gọi khu đó, như khu Cầu Muối. Và cũng có một số địa danh do phát âm sai nên ý nghĩa ban đầu đã bị biến đổi nhưng người ta đã quen với cái tên được phát âm sai đó nên khi ghi chép lại, vẫn giữ cái tên đã được đa số chấp nhận, như Bến Lức, chợ Búng (Lứt là tên đúng lúc ban đầu, vì nơi đó có nhiều cây lứt; còn chợ Búng nguyên thủy chỉ bán mặt hàng bún, sau này bán đủ mặt hàng và cái tên được viết khác đi).