Showing posts with label Tùy Bút. Show all posts
Showing posts with label Tùy Bút. Show all posts

Wednesday, April 26, 2017

Tùy Bút: Nhớ lắm hủ tiếu chay…

Bài & ảnh: Hoàng Hoa


(NLĐO) - Tôi mắt nhắm mắt mở bước vào bếp đã ngửi được mùi thơm lừng, trên bàn ăn là tô hủ tiếu chay còn nóng hổi.

Chị rủ tôi về nhà chị chơi. Từ ngày lấy chồng, chị sống ở Tiền Giang, nơi có món hủ tiếu Mỹ Tho nổi tiếng. Biết tôi đến, chị chuẩn bị bao nhiêu là món ăn ngon nhưng khi tôi tuyên bố phải ăn chay 1 tháng để thanh lọc cơ thể, chị tiu nghỉu: "Làm chị mua bao nhiêu là thứ!". Vậy là những món ngon chị đành cất vào tủ lạnh, chỉ chừa mớ rau củ nấu món cho chay cho tôi.
Chị tôi vốn xinh đẹp, giỏi giang lại nấu ăn ngon trong khi tôi dở tệ. Tôi chỉ biết đi làm, còn những việc liên quan đến "tề gia nội trợ" tôi đành chào thua. Bởi vậy đã gần 30 tuổi mà tôi vẫn "độc thân vui tính". Thấy tôi ế, mấy bà chị họ chọc ghẹo: "Ai rước con Hoa sẽ được dì Ba (má tôi) khuyến mãi thêm mấy cây vàng". Tôi chỉ cười, đáp: "Tại em thích sống một mình, lấy chồng chi cho cực".
Ở nhà chị, tôi luôn được ăn ngon. Chị làm nhiều món chay cho tôi nào là mì căn xào sả ớt, canh rong biển, rau củ luộc và cả món sườn non muối chiên mà tôi yêu thích. Hôm đó, tôi no căng bụng bởi thức ăn chị nấu.
Sáng hôm sau, khi tôi còn nằm ngủ, chị gọi tôi dậy ăn sáng. Tôi mắt nhắm mắt mở bước vào bếp đã ngửi được mùi thơm lừng, trên bàn ăn là tô hủ tiếu chay còn nóng hổi. Tôi trách chị sao không kêu tôi dậy sớm phụ nấu ăn mà thui thủi làm một mình. Chị bảo: "Thấy em ngủ ngon quá nên thôi". Vừa nói chị lặt mấy cọng rau quế cho vào tô hủ tiếu, kêu tôi ăn ngay kẻo nguội.
Tô hủ tiếu chay chị nấu thật hấp dẫn. Ngoài đậu hũ, nấm rơm, nấm đông cô, chả chay... còn có mấy miếng tàu hũ ky và hoành thánh chiên giòn, vàng ruộm. Tôi sà vào bàn, thưởng thức hủ tiếu chay chị nấu. Chao ôi, nước dùng ngọt lịm, cọng hủ tiếu mềm dai, miếng chả chay thơm ngon cùng hoành thánh chiên giòn tan, bùi bùi bởi phần nhân đậu xanh ngon tuyệt. Tôi hỏi chị công thức nấu món này, chị chỉ: "Muốn nước dùng ngọt, ngon khi nấu phải có củ cải trắng, cải đỏ, củ sắn. Để tăng thêm hương vị cho nước súp, trước khi nấu, em cần phi tỏi tây cho thơm, rồi cho nấm đông cô, nấm rơm vào xào chung. Riêng tàu hũ ky, hoành thánh cần chiên giòn để ngoài đĩa, đến khi nào ăn mới cho vào hủ tiếu. Đặc biệt, để hủ tiếu thêm ngon, khi ăn cần rắc thêm đậu phộng rang vàng cùng ít bánh mì chiên giòn vào".
Nghe chị chỉ, tôi lắc đầu: "Món này cầu kỳ quá, em chịu thua! Khi nào thèm, em nhờ chị nấu". Chị mắng tôi: "Đúng là má cưng em riết rồi em không chịu làm gì cả, mai mốt lấy chồng ngồi đó mà khóc ròng".
Lại cái điệp khúc lấy chồng, lấy chồng... Mà lấy chồng không biết nấu ăn thì đã sao? Biết đâu mai mốt tôi lấy chồng, chồng thương lo luôn cả chuyện bếp núc cho tôi cũng nên.

Wednesday, February 22, 2017

Tùy Bút: Về chùa ăn chay! (Nguyễn Hoàng Duy)

Về chùa ăn chay!

Nguyễn Hoàng Duy

(TTH) - Thật hạnh phúc khi về chùa ăn cơm chay. Bữa cơm đạm bạc thôi nhưng chất chứa nhiều điều yêu thương khó tả.
Nhớ hồi nhỏ, cứ mỗi lần đến mồng một, ngày rằm (Âm lịch) hằng tháng, hay những ngày lễ Phật, tôi hay lót tót theo ba mẹ đi chùa. Đến chùa, không gian thanh tịnh, trang nghiêm làm cho ai nấy cũng tĩnh tâm, nhẹ nhàng, vứt bỏ mọi lo âu, phiền muộn.
Thường sau khi đốt nhang khấn Phật xong, tôi và mẹ chưa về vội mà nán lại sau chùa gửi chút thực phẩm chay, phụ các sư (hoặc ni) dọn dẹp đồ đạc, phụ chuyện bếp núc, trưng bày trái cây cúng Phật. Nhờ có các Phật tử như mẹ tôi mà nhà chùa “vẽ” ra được nhiều món ăn chay lạ mắt, ngon miệng, độc đáo, ai nhìn cũng phải thèm. Người lớn thì bận rộn việc làm cơm chay, trong khi trẻ con như tôi thì lại đói bụng. Khi nhìn thấy những món ăn bắt mắt, ngon miệng, tôi không thể nào kiềm nén tiếng réo gọi của bao tử, thèm thuồng của vị giác. Níu vạt áo của mẹ, tôi nói hồn nhiên: “Mẹ, con muốn ăn! Con đói bụng quá!”. Bao giờ cũng thế, mẹ xoa đầu tôi, bảo: “Chờ tí đi con. Đợi cúng Phật, làm lễ xong, mẹ sẽ cho con ăn thoải mái. Con nhớ, phải biết nguyên tắc này, không được đòi hỏi, rõ chưa!”. Mặt tiu nghỉu vì đói bụng nhưng tôi vẫn ráng cười: “Dạ!”.
Bữa ăn được dọn ra ngay sau đó. Rất nhiều Phật tử ngồi vào bàn ăn trong nụ cười trìu mến. Đâu đó rơi rớt những giọt mồ hôi hạnh phúc, ấm lòng. Sau khi trụ trì tụng kinh cầu nguyện xong, mọi người dùng đũa thọ trai. Chao ôi, tôi chỉ chờ đến lúc này để mà nhanh tay gắp thức ăn. Mẹ nhắc khéo: “Ăn từ tốn thôi con, đừng phàm ăn như thế, mọi người nhìn kìa!”. Vội rụt tay lại, tôi nhẹ nhàng gắp mỗi món một ít cho vào chén. Phải công nhận rằng các món chay ở chùa làm rất ngon. Đồ chay luôn mặc định là ngán, bởi chỉ có thực phẩm làm từ rau, củ, quả. Nhưng qua bàn tay của các Phật tử như mẹ tôi, các sư (ni) khéo léo đã làm nên nhiều món chay rẻ mà ngon miệng. Nhiều sư (ni) thấy thằng nhóc như tôi khoái các món ăn chay, đã kêu mẹ tôi mang một ít về nhà cho tôi dùng. Mẹ từ chối vì ngại, nhưng tôi lại vô tư xin về. Mẹ và sư (ni) chỉ biết nhìn tôi cười trìu mến.
Dù không ăn chay trường, nhưng nhờ đến chùa ăn chay, tôi mới nhận ra mình có thêm nhiều kinh nghiệm sống, thêm cảm giác an toàn, ấm cúng. Ngoài ra, tôi lại học được nhiều kỹ năng làm bếp, biết tự tay nấu thức ăn và làm được nhiều việc lặt vặt khác. Đó là chân lý sống: “muốn ăn phải lăn vô bếp”. Nhìn thấy mọi người cười nói vui vẻ, pha trò rôm rả, tôi cảm thấy lòng mình ấm cúng, như một gia đình thứ hai.
Về chùa ăn chay, không đơn thuần là đến để ăn, mà đến để cảm nhận và học hỏi thêm nhiều điều may mắn, hạnh phúc, đáng yêu trong cuộc sống này.


Wednesday, February 01, 2017

Tùy Bút: Nguồn vốn tâm hồn

Nguồn vốn tâm hồn

BÙI VIỆT QUÝ, ảnh: HUỲNH CÔNG BÁ

(NLĐ) - Những năm gần đây, một số gia đình tổ chức làm lễ thành hôn cho con tại chùa, gọi là lễ hằng thuận. Ngay tên gọi “hằng thuận” đã thấy thật hay và ý nghĩa, hàm ý mong muốn đôi vợ chồng trẻ suốt đời thuận thảo, thương yêu nhau, cùng xây dựng hạnh phúc gia đình bền vững.

LÒNG NGƯỜI RỘNG MỞ
Lễ hằng thuận là một tục lệ từ những năm 50 của thế kỷ trước, tổ chức tại chùa Vọng Cung ở Nam Định, ngày nay được khôi phục, khá phổ biến với những gia đình theo Phật giáo hoặc quen nếp đi chùa. Tôi đã được tham dự một số lễ hằng thuận cùng vài gia đình thân thiết. Có một buổi tôi nhớ mãi là ở ngôi chùa tại quận 12, TP HCM; bên cạnh lễ hằng thuận còn có lễ cầu an của hai gia đình cho người thân. Những người dự lễ nghiêm trang chắp tay cúi đầu nghe đọc kinh, nghe lời thầy giảng về đạo nghĩa, cùng chúc cho đôi vợ chồng trẻ. Hết lễ hằng thuận, nhiều người tiếp tục ở lại để làm lễ cầu an, không phân biệt lễ nhà ai, cho ai. Ai cũng thấy cửa Phật từ bi, lòng người rộng mở, mong cho nhau sức khỏe, an lành.
Cũng tại những ngôi chùa, ngày nhỏ tôi thường được theo bà nội và ba mạ lên chùa dự đám giỗ. Đây là dịp được biết đến quy mô của các ngôi chùa lớn ở thị xã Quảng Trị, ở TP Huế, Đà Nẵng; được chiêm ngưỡng cảnh quan, thăm các trai phòng, hậu liêu; được nghe người lớn giải thích vì sao có chữ ăn chay, về khái niệm “liêu trai” trong văn chương, đời thực. Tại các đám giỗ, chúng tôi hiểu thêm nền nếp gia đình khi chứng kiến bà con dòng họ tiếp đón nhau trọng thị, tình cảm thế nào.
LẤY ĐẠO NGHĨA LÀM ĐẦU
Bây giờ, không còn khung cảnh xưa, chuyện gia phong đôi khi thành khó nói song vẫn có nhiều gia đình gìn giữ được qua những sinh hoạt thường ngày. Tôi nhớ lúc sinh thời, ba tôi luôn bài trí bàn thờ trang trọng, những ngày Tết ngoài bánh tét, ba đều gói thêm mấy cặp bánh chưng rất đẹp để cúng ông bà. Ba đốt trầm trong lư, đốt nhang và khăn đóng áo dài cúng vái, mong năm mới an lành cho toàn thể gia đình dòng họ, gia đạo luôn an khang, hạnh phúc. Ba cũng đốt trầm, thắp nhang mỗi khi mở tráp lấy quyển gia phả viết thêm lúc có những chuyện trọng đại của dòng họ cần ghi chép hay lúc dòng họ có thành viên mới. Ba giảng giải cho chúng tôi nghe về những điển tích, những câu chuyện liên quan đến lịch sử gia đình, dòng họ, trong lịch sử chung của quê nhà, của đất nước.
Với chúng tôi, nhiều việc ba làm đều xuất phát từ những điều rất thiêng liêng, càng lớn chúng tôi càng thấu hiểu để nghĩ về ba với sự hàm ơn sâu nặng. Do dòng họ của tôi có những quy định đặc thù trong gia phả như trai gái cùng họ không được lấy nhau, người cùng họ gặp nhau trên đường đời hãy coi nhau như anh em nên khi ba nằm bệnh viện, gặp một bác cùng họ ở phòng bệnh, đã nhận nhau làm anh em. Một người Quảng Nam, một người Quảng Trị nhưng nghĩa trọng tình thâm. Từ đó, các con cháu của hai gia đình đều biết nhau, thương quý nhau như ruột thịt, lúc hữu sự anh em đều xắn tay vào. Nay các bác và ba tôi đều đã quy tiên nhưng tình cảm của các con cháu vẫn duy trì.
VỮNG LÒNG TRƯỚC BIẾN THIÊN
Ngày tôi học lớp ba, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, ba dặn tôi học thuộc một bài trong “Việt Nam thi nhân tiền chiến” của Hoài Thanh - Hoài Chân. Chiều tối ba về, tôi đọc cho ba nghe. Cứ vậy mà những bài dài ngắn tôi đều thuộc. Nghe tôi đọc từ những bài ngắn như “Mòn mỏi” (Thanh Tịnh), “Nắng mới” (Lưu Trọng Lư) đến bài dài như “Lỡ bước sang ngang” (Nguyễn Bính), ba rất vui. Ba cũng để cho tôi được tự do đọc tủ sách gia đình, các bộ truyện kinh điển hay văn chương hiện đại cùng các tạp chí Văn, Phổ Thông... để mở mang kiến thức. Lâu lâu, ba hỏi đố một câu, chỗ nào chưa hiểu thì ba giảng thêm cho hiểu. Cái sự học đâu chỉ ở trường mà còn là chỉ dạy của ba, của những trang sách mỗi ngày. Đọc sách cũng là để học làm người, ba thường dặn chúng tôi như vậy. Đó không chỉ là nếp nhà mà còn cho chúng tôi vốn tâm hồn để sống, dựa vào để vững lòng trước những biến thiên.
Ở thị xã Quảng Trị những năm 1960 có nhiều ngôi nhà cất theo kiểu xưa nhưng ai cũng biết hai dãy nhà thật to và dài, cất trên nền rất cao ở cách chợ Quảng Trị chừng 2 cây số. Nơi đây là nơi những cư dân xóm Bàu và những vùng thấp khác tới tá túc mỗi khi lụt về. Gia chủ cực kỳ tốt bụng, sẵn lòng đón tiếp mấy trăm con người với lỉnh kỉnh đồ đạc, chộn rộn suốt ngày. Lúc ngoài trời mưa to gió lớn, nước ngập cả thị xã, lé đé khoảng sân trước nhà thì người chạy lụt vào đây là được an toàn. Hết lụt, bà con quyến luyến chia tay gia chủ, gồng gánh đồ đạc ra về.
Những ngày nhỏ ở thị xã Quảng Trị, mỗi năm tôi được vài lần theo bà nội về làng Bích Khê bởi bà tôi là con gái họ Hoàng. Một ngôi làng nổi tiếng, thời nào cũng có hiền tài trong thiên hạ. Cảnh làng đẹp với hồ sen, ao cá, nhà thờ tôn nghiêm với các bức hình các tổ tiên đội mũ cánh chuồn mà trong nhận thức tuổi thơ tôi biết các cụ làm quan to lắm. Cái nền nã của bà nội tôi, các bà chị em của bà nội trong sinh hoạt hằng ngày cho thấy họ thừa hưởng một nền giáo dục tuyệt vời, thư thái mà quý phái, khiêm nhường mà thanh cao.
Vẫn biết người của mỗi thời và thời của mỗi người, thế gian biến cải, con người già đi thì dễ lạc hậu với thời cuộc, với những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhưng có những giá trị mãi trường tồn, đó là văn hóa, là tình thương yêu. Người nào được giáo dục từ tấm bé, có niềm tự hào chính đáng về gia đình, dòng họ, quê hương thì người đó luôn biết giữ gìn đạo nghĩa, không làm điều tổn hại đến thanh danh gia đình, dòng họ.

Friday, February 12, 2016

Tùy Bút: Nhạc sỹ Quốc Bảo kể chuyện Tết

Vietnamese songwriter Quốc Bảo reminisces the Lunar New Years of his childhood. His mother, a flower-loving retired teacher, turned vegetarian in her later years; consequently, the family's New Year food was also veg, which he believed made it a cozier celebration because it seemed purer.

Nhạc sỹ Quốc Bảo kể chuyện Tết
Nhạc sỹ Quốc Bảo

(BongDaPlus) - Tết bất kỳ nơi đâu trên quê hương mình đều có phong vị riêng, đáng nhớ, vừa vui vẻ vừa cảm động. Tết Sài Gòn - tôi đã trải qua gần năm mươi cái Tết trên mảnh đất này - có cả niềm vui lớn lẫn nỗi buồn nho nhỏ, nhưng dù vui hay buồn thì vẫn đáng nhớ và đáng yêu.

Tết Sài Gòn, nơi đây tôi có gia đình. Có gia đình trong nửa thế kỷ, không phải bơ vơ luân lạc, là may mắn lớn và hiếm hoi. Bây giờ, hẳn không còn ai nhớ màu xác pháo ra làm sao, còn khi tôi còn bé, một chiếc áo sơ-mi mẹ may cho để mặc Tết nhất định phải có màu xác pháo. Đó là màu hồng đỏ. 

Cái màu hòa vào không khí đỏ rực của đèn lồng, quà bánh, mứt kẹo, xác pháo ngập sân, mẹ tôi dẫn tôi vào chợ Bến Thành chọn mua vải và tôi nhất mực phải tìm cho ra vải màu xác pháo. Rồi xúng xính thử áo mới còn nguyên vệt phấn mẹ may. Rồi mặc suốt đến ngày mùng bốn không chịu thay bộ khác. 

Quần shorts trắng, giày trắng và sơ-mi xác pháo, hình ảnh đứa bé là tôi trong những ngày Tết nhất đến giờ vẫn còn nguyên vẹn trong trí tưởng; con trai tôi giờ hoàn toàn không có khái niệm và nhu cầu mặc như thế. Vậy mới biết cái hồn Tết dù muốn dù không, đã bạc màu qua năm tháng. Nửa thế kỷ rồi còn gì!

Mẹ tôi là nhà giáo, được nghỉ Tết sớm (so với công nhân viên chức các ngành khác) và tranh thủ tối đa những ngày nghỉ để cắt may cho khách đặt hàng từ trước rất lâu. Giáp Tết, tôi không thấy mẹ ngủ lúc nào. Có khi chợt tỉnh giấc lúc hai, ba giờ sáng vì tiếng pháo vọng lại đâu đó trong xóm, vẫn thấy nhà dưới sáng đèn và tiếng đạp máy may lạch xạch. 

Mọi đơn hàng đều phải giao trước Giao thừa, nên từ mùng một Tết mẹ chỉ còn sức để đặt mâm cúng rồi nằm vùi ngủ bù. Những việc giao tế, sắm sửa, tiếp khách, bà ngoại tôi đảm trách. Tôi thì chỉ đi ra đi vào bốc kẹo mứt ăn và chúc tuổi khách khứa, nhận tiền lì xì. 

Rồi loanh quanh trong xóm đốt pháo, đánh bài, chơi tam cúc, hoặc lấy xe đạp chạy lòng vòng xem không khí Tết mọi nhà ra làm sao. Nhà nào cũng đầy xác pháo, vỏ hạt dưa; nhà nào cũng thơm phức hương trầm; nhà nào cũng đầy tiếng cười và xe xếp hàng trước cửa.  

Ngày tôi còn bé, Tết vui thực. Có lần tôi đã so sánh bằng câu nói ngây ngô: Tết vui như ngày giỗ. Vì sao vậy? Vì chỉ có những đám giỗ lớn, gia đình tôi mới có họ hàng quây quần đông đủ. Mới có thức ăn ngon, mới được ngả đầu vào lòng bà buổi trưa nghe chuyện ngoài Bắc, những chuyện có thật mà như cổ tích.

Tết với tôi, ngay cả hôm nay, vẫn như cổ tích.

Họ hàng tôi thực ra không nhiều, lưu lạc tứ tán. Cả năm có khi không thấy mặt nhau, nên ngày Tết quan trọng lắm. Ngày 24 tháng chạp, giỗ ông ngoại tôi, thành thử không khí Tết nhất và những món sắm sửa bày bàn thờ gia tiên đã được chuẩn bị trước 23. Ngày 23 đưa ông Táo về trời. 

Từ 23 đến tận mùng bốn Tết, bàn thờ gia tiên không bao giờ thiếu hương trầm và ngũ quả. Những năm nào may mắn mẹ tôi không quá bận, thì còn bày ra làm mứt quất và tôi là đứa bé được giao “trọng trách” dùng lưỡi lam lạng mỏng lớp vỏ quất. Nhà tôi sên mứt bằng bếp dầu hôi. 

Một chảo mứt bày giữa nhà, nóng bỏng, thơm lựng. Tôi dùng tăm xiên những quả quất còn sôi sục trong chảo, lúng búng thổi cho nguội rồi nhấm nháp. Ăn như thế, đến đúng ngày Tết không còn bụng dạ nào mà ăn. 

Vậy là chỉ uống nước ngọt, cắn hạt dưa, đến bữa thì ăn qua loa vài miếng thịt kho trứng cuốn bánh tráng. Có nhiều năm ăn Tết nghèo túng, gia đình chỉ mua được con gà và thổi xôi cúng, vậy mà vẫn vui. Hoặc có khi đó là tôi vui, trẻ con thì biết lo lắng gì, chứ người lớn lòng tan dạ nát không chừng.

Tôi chưa kể chuyện hoa. Đường Nguyễn Huệ xưa là chợ hoa, chưa có khái niệm “đường hoa”. Đơn thuần là cái chợ bán hoa đủ loại: cúc, thược dược, huệ tây, tulip, mai vàng, vạn thọ, hồng, cẩm chướng. Tôi đạp xe ra nghiêng ngó, thuận chỗ nào vui thì ghé vào, mua chẳng mua vì đắt, phải chờ đến chiều ba mươi giá mới hạ. Lúc đó thì mua, khệ nệ bưng về. 

Nhà tôi không thích mai, cồng kềnh, nên chỉ mua những chậu nhỏ bày hai hàng trước cửa. Cả nhà, mẹ tôi thích hoa nhất, nên mua hoa là dành cho mẹ. Hoa để trưng, hoa để cúng. Cũng nhờ mẹ chú trọng việc cúng lễ, tôi biết ý nghĩa đích thực của Tết.

Ấy là, Tết chính là dịp ta bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên ông bà. Tết không chỉ là ngày hội, là dịp nghỉ dài (học sinh thì nghỉ miệt mài!), Tết là lúc mời gia tiên về sum họp với người sống. Nghi lễ đó bắt nguồn từ đạo thờ ông bà, đạo của riêng người Việt. Tết ta không giống Tết Tàu dù cùng dịp lịch âm. 

Ý nghĩa Tết ta hoàn toàn khác, mang nặng yếu tố tâm linh và hiếu nghĩa. Từ khi hiểu được, tôi bớt thành kiến với Tết hơn - đây là lúc tôi lớn, thấy bày vẽ Tết nhất quá tốn kém và mùa nghỉ quá dài ảnh hưởng công việc. Không hẳn hòa được vào Tết, nhưng ít nhất không dị ứng, không “sợ” Tết.

Nếu bạn đã từng ăn Tết phương Nam, hẳn biết ngày Tết trời không hề lạnh. Vài năm có mưa vào chiều mùng một, nhưng nắng gay gắt từ chín giờ sáng đến tận năm giờ chiều. Trời nắng như thế, cái thú xuýt xoa vì rét và áo bông áo kép hoàn toàn vắng bóng. Người Sài Gòn ăn Tết nóng. 

Những chỗ công cộng càng nóng và ngộp hơi người. Nơi giải trí như công viên, đường hoa đúng ra không phải dành cho dân Sài Gòn gốc, mà chủ yếu phục vụ khách nhập cư. Người Sài Gòn thường ở nhà vui với gia đình, đi thăm họ hàng, thăm bạn hữu lâu ngày, và nghỉ ngơi. Cái Tết đích thực ở Sài Gòn thuộc về những nếp nhà, không ở đường phố.

Bạn tôi, có những người treo bảng “Chúng tôi đi vắng” để đóng cửa miễn tiếp khách, dành những ngày nghỉ để chăm sóc gia đình, giải trí tại gia, ngủ bù. Nhà tôi không đến mức cực đoan vậy, nhưng cũng hoàn toàn xa lánh chốn lao xao. Tết là rút về tổ ấm của mình, là tận hưởng hạnh phúc mình có một gia đình, là sum họp, là chia sẻ những ý nghĩ mà trong năm bận rộn không có dịp nhắc, là ôn lại “cổ tích” tổ tiên ông bà, sửa sang nơi thờ tự, đi chùa cầu an. Kể hết ra những điều ấy, có khi các bạn thấy Tết sao mà chán quá.

Thì Tết (nhà tôi) đâu phải là lễ hội. Chúng ta đã có kỳ nghỉ dài trước đó (Giáng Sinh và Tết dương lịch), nên Tết ta mà chỉ rong chơi thì hóa ra rong chơi suốt năm. Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh cổ truyền nay cũng chỉ còn lại bánh chưng, người miền Nam không biết hạ cây nêu là gì. 

Bánh chưng gia đình tôi thích ăn trước Tết (giống như mứt quất), thế nên đúng ngày thì thành ngán. Những năm sau này, mẹ tôi lớn tuổi ăn chay trường, nhà tôi vì vậy không có thịt mỡ dưa hành, chỉ toàn món chay trên bàn thờ và bàn ăn. Tết không vì thiếu thịt mà nhạt đi chút nào, tôi thấy còn ấm áp hơn vì thanh tịnh hơn. 

Màu xác pháo giờ tôi đâu còn ham nữa, có tả cũng ít người biết đó là cái màu gì. Tết, ở nhà chơi với con, viết một ít nhạc, làm một ít thơ, ngẫm nghĩ nhân tình thế thái và tưởng nhớ những người đã xa, âu vẫn là cảm động.

Nửa thế kỷ qua với Tết Sài Gòn, Tết quả có thay đổi màu sắc hình thức. Nhưng cái hồn ẩn sâu bên trong thì vẫn vậy: là mùa của đoàn viên, mùa của tưởng nhớ, mùa của hy vọng.



Thursday, February 04, 2016

Tùy Bút: Tết này, nhà tôi sẽ ăn chay (Nguyên Ân)

A Vietnamese homemaker plans to augment her family's savings by preparing vegan fare in celebration of the lunar New Year.

Tết này, nhà tôi sẽ ăn chay
Nguyên Ân (Theo Tuổi Trẻ Thủ Đô) 

Tết này tôi đề nghị chồng ăn chay. Đây không phải là câu chuyện về tâm linh, tôi không theo đuổi thuyết linh hồn. Tôi chỉ có lòng tin chắc chắn sự ngon miệng không nhất thiết phải đến từ miếng thịt, nhất là qua thời gian tôi ăn chay trường một mình suốt mấy năm nay. Chồng tôi không phản đối gì. 

Năm nay bằng cách dùng thực phẩm chay, tôi dự tính chi tiêu cho Tết của gia đình sẽ không quá 5 triệu đồng. Ăn chay vừa tiết kiệm, vừa tốt cho sức khỏe thì sao lại không. Tôi muốn làm một người mẹ tốt, ngay cả khi đảm nhận thử thách mới của mình, đó là đem lại niềm vui cho gia đình mà không nhất thiết cần phải có miếng thịt ngon với thật nhiều tiền!

Ăn chay có nhiều cách thức và quan niệm, nhưng tôi dùng gạo lứt như cách những người thực dưỡng đã làm. Tôi cũng loại bỏ tất cả hạt nêm, bột ngọt ra khỏi căn bếp nhỏ. Vị ngọt của đường được hạn chế tối đa, nhưng nếu cần tôi sẽ dùng đường tự nhiên như đường thốt nốt, đường bát ép từ mật mía thay vì đường tinh luyện. Tất cả sẽ ăn cùng gạo lứt - thứ gạo nâu xỉn quê mùa này khi nhai kỹ sẽ nhận thấy vị ngọt ngon tuyệt vời. 

Tôi cũng dự tính thay nước dùng từ xương hầm bằng nồi nước dùng từ nấm và rong biển phổ tai, thêm muối và một vài loại củ quả theo mùa như bí đỏ, bắp ngô... Chỉ khi có những trải nghiệm thực tế mới tin, vị ngọt của một món ăn không hề đến từ mì chính hay đường. Nó chắc chắn, chính xác đến từ hạt muối. Khi muối được nêm đúng lúc để thâm nhập vào rau củ quả, sẽ gọi mời tất cả vị ngọt ngon của củ quả tràn ra. Tình yêu thương theo cách của những người thân thật sự dành cho nhau cũng vậy, nó đến từ sự thẳng thắn, nghiêm khắc và thấm thía, chứ không đến từ những lời ngon ngọt. 

Cuộc sống, nhìn từ căn bếp của một người phụ nữ nấu đồ chay như tôi giản dị mà lung linh kỳ diệu. Hệ thực vật phong phú của nước ta đã cho con người tất cả những thứ chúng ta cần, từ thuốc men đến những bữa ăn. Nấu đồ chay mới nhận ra sự linh hoạt bền vững từ thực vật.  Nấm có vị béo ngậy khi tươi và ngọt dịu khi khô. Củ cải hăng hắc sẽ trở nên đằm tính nếu ta nướng lên trước khi ninh, hầm. 

Tôi nghe nhiều bà nội trợ quanh mình bàn tán kêu ca, rằng cũng muốn làm món chay nhưng không có nhiều công thức, thực đơn. Tôi thì nhận thấy những món ăn từ thịt, vốn dĩ dùng cùng một nguyên liệu thịt nên hương vị luôn đều đều, từa tựa như nhau. Dẫn đến người ta mất công nêm nếm, chế ra đủ thứ gia vị, hạt nêm, thậm chí nêm cả những thứ đồ hóa chất chỉ để món thịt thêm hương vị. Riêng với đồ chay, muôn ngàn loại rau củ đã cho muôn ngàn hương vị khác nhau. Chỉ là con người nhìn nhận ra sao, để chúng được phát huy thế nào. Ngọt như củ khoai, bùi như củ sắn, ngậy như bí đỏ, dẻo như bí xanh,  bùi béo như hạt đậu, hạt điều... Mỗi thứ đều có vị riêng của nó.

Mọi thứ đều sinh ra với một đặc tính riêng, không có một thứ gì hoàn hảo. Như rau củ nhạt nhẽo cần muối để trở nên đằm thắm. Như rong biển lạnh lẽo cần tỏi với gừng để thật nồng nàn. Như đu đủ xanh chát chúa có thể xào với thật nhiều ớt cay, với một nhúm quả cà xanh đắng lè mẹ tôi gửi từ quê, với nắm rau sắn đồi đắng xít, thì ít ai tin rằng nó ngọt như chưa từng có thể ngọt ngào như thế trên đời. Hay chuyện trái khổ qua nhất định phải làm món nộm cay với ớt và thật nhiều vị sả, cùng nắm lá chát và vắt cùng chanh chua, nó sẽ khiến mọi giác quan bừng tỉnh vì nỗi dịu dàng thanh đạm và mê mải. 

Tôi yêu căn bếp nhỏ của mình, yêu cách ông chồng giản dị của mình cười tươi đón nhận món chay từ bàn tay vợ. Yêu đứa trẻ đang từng ngày lớn lên và nghe tôi chia sẻ về quan niệm âm dương, về vị ngọt cân bằng từ sự cực đoan của muối với cái im lìm tưởng như nhạt nhẽo từ rau củ, như con xinh đẹp khỏe khoắn hiện hình từ mẹ với cha. Như câu chuyện về nỗi khô cằn tưởng như đã chết của những hạt đậu nành, chúng vẫn có thể nảy mầm nhờ nước. Thứ đậu nành khô cho ra thứ sữa đậu nành mệt mỏi, nặng nề vì hàm lượng protein cao chất ngất, đủ để gây ra hiện tượng axit máu tăng đột biến cho bất cứ người nào nạp nó vào liên tục, bỗng trở nên kiệt quệ tận cùng với một cái mầm trong nó nhú lên. Chắc là hạt đậu sẽ đau trong chốc lát, nhưng khi cái mầm của nó nảy ra, hạt đậu bỗng trở thành quà quý...

Tết này nhà tôi không mua rượu, sẽ chỉ có ấm trà tiếp khách cùng bánh ngọt, đồ chay. Say sưa nghiêng ngả cả năm rồi, giờ mấy ngày Tết là để cùng nhau vui vầy với mùa xuân, tình xuân... 



Tuesday, October 13, 2015

Tùy Bút: Đi Tây Ninh ăn bánh canh chay 3.000 đồng


Đi Tây Ninh ăn bánh canh chay 3.000 đồng
Hà Giang

(NLĐO) - Bánh canh chay ở Hòa Thành - Tây Ninh có mùi và vị rất riêng được tạo nên bởi tàu hủ ky ngọt, ớt khô và ngò gai.

Nói tới Tây Ninh người ta hay nhắc đến món bánh canh Trảng Bàng. Ở Sài Gòn, một tô bánh canh Trảng Bàng có giá cỡ 50.000 đồng. Lên tận Trảng Bàng, giá một tô bánh canh đặc sản này cũng chỉ giảm chút đỉnh. Nhưng đã đi thì đi cho trót, hãy qua cả Trảng Bàng, Gò Dầu, thẳng tiến Hòa Thành để nếm thử món bánh canh chay bình dân ở xứ này cho biết.

Bánh canh Tây Ninh làm bằng bột gạo như cọng bún nhưng lớn hơn mà ở Sài Gòn người ta gọi là bún bò. Nước lèo của món bánh canh chay ở Tây Ninh cũng như nhiều nơi khác được nấu từ rau củ cho ngọt đậm đà. Trong khi ở Sài Gòn, các món ăn chay thường có phần nhưn cầu kỳ như chả lụa chay, hem, nấm đông cô, hoành thánh,… thì ở Tây Ninh, nó đơn giản hơn nhiều, đôi khi chỉ vài lát củ cải, tàu hủ trắng.

Nói về nước lèo, để nước dùng được ngọt mà không tốn nhiều vốn liếng người ta thường nấu bằng mướp hương mà phải là mướp hương già, loại quá lứa lỡ thì nằm khuất trong lá bị người nông dân bỏ sót lúc thu hoạch. Thay vì vứt đi, họ đem bán cho các tiệm nấu bánh canh chay, khi nấu nước lèo thì gọt sơ vỏ, cho cả trái vào ninh từ từ sẽ có nồi bánh canh ngọt lừ.

Cũng có tiệm dùng nấm rơm khô để nấu nước lèo cho ngọt. Tây Ninh cũng là xứ trồng nấm rơm, sau khi thu hoạch thể nào nấm cũng sót lại, trổ dù, người ta lại nhổ hết mang ra chợ bán rẻ, đôi khi chỉ vài ngàn đồng/kg. Loại nấm này mua về gọt sạch gốc, không rửa ráy gì mà mang ra phơi dưới nắng to để làm sao đến chiều là khô cong lại. Lúc dùng thì đem ra ngâm, rửa nhiều lần cho sạch cát. Nước lèo nấu bằng nấm rơm khô thường có màu hổ phách, mùi thơm đặc trưng và dĩ nhiên ngọt rất đậm đà.

Các món ăn mặn thường không thể thiếu tóp mỡ béo ngậy, giòn tan. Bánh canh chay Tây Ninh cũng không thiếu vị này. Ngày trước người ta dùng đậu phộng rang giòn cho vào, sau này thay bằng bánh mì. Bánh mì được xắt hạt lựu, cho vào chảo dầu nóng đã phi thơm chiên sơ cho vàng rồi trộn với hành phi, khi bán chỉ cần múc một muỗng chan lên trên đã có tô bánh canh thơm phức.

Nhưng để làm nên hương vị riêng của bánh canh chay Tây Ninh phải kể đến tàu hủ ky ngọt, ngò gai và ớt khô. Tàu hủ ky ngọt được cắt khúc, chiên qua dầu cho giòn rồi vớt ra để ráo. Khi bán, chủ quán sẽ tính toán lượng khách mà cho tàu hủ ky vào nồi nước lèo để sao cho nó vừa mềm tới mà không bị rục. Loại tàu hủ ky ngọt này không chỉ làm cho nồi nước dùng thêm đậm mà còn có mùi rất hấp dẫn, khi được nấu qua, giòn giòn, sựt sựt, rất ngon.

Thức ăn chay dĩ nhiên không thể thơm và đậm vị bằng thịt cá nên để kích thích vị giác người ăn phải nhờ đến mùi hương. Tôi đi nhiều nơi thấy người ta nêm bánh canh chay chỉ với hành lá và ngò rí. Ở Hòa Thành, rau nêm bánh canh có thể thiếu ngò rí nhưng không bao giờ được thiếu ngò gai. Loại ngò này quyện với hành lá, hành phi và nước dùng nóng hổi sẽ cho mùi thơm rất ngọt ngào. Vì vậy mà ngồi trước một tô bánh canh ở Sài Gòn tôi luôn cảm thấy chưa đủ thơm để đụng đũa trong khi chỉ cần đứng trước một tiệm bánh canh bình dân ở Hòa Thành là đã thấy bụng sôi lên bởi cái mùi rất quyến rũ bốc lên từ quán.

Ớt khô là thứ không thể thiếu trong các quán bánh canh bình dân ở Tây Ninh. Còn nhớ cách đây khoảng 15 năm khi tôi còn ở quê nhà, chiều chiều đi học về là rủ nhau vào quán bánh canh thách nhau đứa nào ăn cay giỏi hơn. Thời đó bánh canh chỉ 500 đồng/tô, rất hợp với túi tiền học trò. Những chiều mùa đông gió bấc thổi lạnh buốt, ngồi xì xụp tô bánh canh nóng hổi đỏ lựng ớt khô đứa nào đứa nấy nước mắt tèm lem mà tiếng cười không ngớt.

Thời gian trôi qua, vật giá leo thang, bánh canh ở quê tôi bây giờ có giá trung bình 8.000 – 10.000 đồng/tô. Riêng ở một con hẻm nhỏ gần chợ Long Hoa chỉ có 3.000 đồng/tô. Sáng sáng ở đây đông nghẹt khách, người ta thường gọi 1 tô bánh canh và 1 ổ bánh mì để chấm. Vậy là chỉ với 5.000 đồng đã có một bữa sáng no bụng.

Thi thoảng về quê tôi cũng tìm ăn bánh canh nhưng để cảm nhận vị ngon như ngày xưa không còn nữa, có lẽ người ta không còn dùng mướp hương già hay nấm rơm khô để nấu nước lèo mà thay vào đó là bột ngọt. Dù vậy, những gia vị cơ bản là tàu hủ ky ngọt, ngò gai, ớt khô vẫn còn đó nên mỗi lần dừng xe trước quán là không cưỡng lại được cái mùi thơm quyến rũ, ngọt ngào mà có đi chân trời góc bể cũng không tìm thấy được.



Friday, November 07, 2014

Tùy Bút: Tháng 11 (Vô Thường)

Source: Veronika's Kandy Koated Dreams
Translation from author Vô Thường's post: "Each of us needs to remember that we are Buddha to be. We remember that, so as to be mindful every time we act, every time we think, every time we give, and every time we receive." 

Tác giả: Vô Thường

Tháng 11, những cơn gió sớm mai chớm lạnh. Nắng mỏng hơn và đất trời mát lành hơn.

Tháng 11, thi thoảng anh bắt gặp trên phố những cô gái với chiếc khăn quàng cổ thật dịu dàng đằm thắm.

Tháng 11, nhớ lắm câu ca dao ngày xưa mẹ hát "gió đưa cây cải về trời". 

Em có hay ru con ngủ bằng điệu lý bằng câu ca dao với những ầu ơ ví dầu đã một thời nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta không?

Tháng 11, anh vẫn ngồi với ly cà phê đá bên hiên nhà có giàn hoa giấy, hoa nguyệt quế, vẫn khe khẻ ngâm khi có câu thơ bất chợt đi lạc qua trong đầu.

Em biết không, anh yêu những giây phút bình an và thong dong này, bởi lát nữa đây nơi bệnh viện đông đúc ồn ào, nơi con người vội vã bức mình về phía trước, anh làm sao tránh được những tham lam, sân hận và ngu si.
Làm sao giữ lòng vững như núi Tu Di mà không hãi sợ?
Làm sao để có thể thở cười nhẹ nhõm?

Nhưng anh tin, những người đang học Bụt, đang bước đi trên con đường Đạo, sẽ tiếp xử mọi chuyện một cách bình thản và có lòng từ.

Cuộc sống phố thị làm chúng ta bị giới hạn trong những bức tường, trong những phương tiện truyền thông của smartphone, notebook ... và chúng ta không ngờ mình đang vô tình tự đóng kín và cô lập sự sống của mình lại.

Ngoài kia bầu trời rộng thênh thang. Ngoài kia đàn chim sẻ vui hót râm ran. Ngoài kia trong nắng đóa hoa đang mỉm cười.

Chúng ta cô đơn trong những muộn phiền, trong những khó khăn riêng tư và trong những bức tường thành kiến mà chúng ta tạo dựng.

Em biết không, có nhiều bệnh nhân đến khám chỗ anh vào giai đoạn bệnh rất nặng. Họ hay hỏi anh: Cây đó, lá đó, uống được không, có chữa trị bệnh được không?

Và anh đã trả lời: Một chiếc lá, một câu chú, một cơn gió cũng có khả năng chữa lành những vết thương những bệnh tật, nếu chúng ta biết tiếp xúc với chúng bằng một tâm thức đã sẵn sàng.

Thường họ không hỏi nữa. Vì họ không biết phải tiếp xúc với thiên nhiên vạn vật như thế nào và không biết chuẩn bị "đất tâm" ra sao để hạt giống bình an hạnh phúc nảy mầm, chuyển hóa khổ đau bệnh tật.

Ừ thì chúng ta cũng như họ em nhỉ. Nghe chim hót chỉ biết đó là chim hót, ngắm giọt sương chỉ biết đó là giọt sương, không biết sự mầu nhiệm vi diệu của sự sống đang biểu hiện qua đó. Hạt sương có đó, tiếng hót của chim sẻ nâu có đó, tất là vũ trụ đất trời trăng sao có đó và chúng ta có đó. Nụ hoa có đó thì hương thơm có đó.

Sự sống của chúng ta chỉ là một hạt bụi bé nhỏ li ti trong vũ trụ bao la trùng điệp này. Em hãy nhìn sâu hơn chút nữa giữa những bước chân chúng ta đi với mặt đất, với bầu trời, với những người ta gặp mặt, với những chuyện đã và đang diễn ra ... có một ranh giới nào không?

Ngài U Silananda có dạy: Chúng ta không thể nào yêu thương thật sự được mình hay người khác nếu không có cái nhìn rộng lớn.

Tới giờ anh đi làm rồi, chào em, chào những gì tinh khôi nhất. Chào em, chào một vị Bụt sẽ thành.

Ừ sẽ thành mà. Ai trong chúng ta cũng phải nhớ mình là vị Bụt sẽ thành. Nhớ như thế để ý thức được mỗi khi hành động, mỗi khi tư duy, mỗi khi cho đi và mỗi khi nhận lại.



Monday, November 03, 2014

Tùy Bút: Trưa nay vô tình mình gặp lại em (Vô Thường)

In Buddhism, to keep the vegetarian diet is to uphold a precept: non-killing / non-harming. It's a way for us to cultivate compassion.

Tác giả: Vô Thường
Nguồn bài viết & ảnh minh họa: Trang facebook Vô Thường

Trưa nay vô tình mình gặp lại em trong quán cơm chay đông đúc trên đường Lê Hồng Phong. 

- Lâu quá không thấy em, 3 năm rồi nhỉ? 
- Dạ, 3 năm. Từ ngày đó, em nghỉ làm trình dược viên luôn.
- Ủa, chứ bây giờ em làm gì, quay lại nghề y hả?
- Không ạ, em ở nhà mẹ nuôi.
Mình đùa: Chời chời, bác sĩ ra trường loại giỏi, đi làm trình dược luôn đạt sale khủng mà bây giờ ở nhà mẹ nuôi. Em cười nụ cười đôn hậu. 
- Anh ăn chay trường hay ăn chay đụng vậy?
- Anh ăn chay đụng. Bữa nào đụng hội nghị, hay đụng độ với bạn bè thì ăn mặn. Còn em?
- Em ăn được 3 năm.
- Ăn chay trường luôn hả?
- Dạ. Em ăn chay trường thì có gì đâu mà anh nhìn em giống người ngoài hành tinh vậy?

Thú thật lúc đó mình rất ngạc nhiên, không phải do em cũng ăn chay trường, nhưng vì mình thấy em khác ngày xưa nhiều quá. Đâu rồi cô gái trang điểm rất cá tính, lúc nào cũng tự tin rằng mình đẹp thông minh, luôn đạt được nhiều thành tích? Đâu rồi cô gái cứ hễ cất lời lên là chê bai người này, chỉ trích người khác? Đâu rồi cô gái có đôi chân mày hay nhíu lại, vẻ đi hấp tấp? Bây giờ nơi em, có cái gì đó thật ấm áp bình an. Dáng đi thì nhẹ nhàng, cử chỉ thì khoan thai, đôi mắt như biết cười lúc nào cũng lấp lánh niềm vui.

- Em khác ngày xưa quá.
- Anh cũng khác ngày xưa nữa, vì dòng sông luôn trôi chảy mà. 
Em nói xong lại cười.

Ừ thì dòng sông luôn trôi chảy. Có một câu triết lý rất hay rằng: Không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Và mình cũng bắt chước triết lí: Ngay khi anh bước xuống dòng sông, anh đã không còn là anh nữa. Mỗi sát na là mỗi một con người khác. Vậy mà đôi khi chúng ta cứ thích phán xét đánh giá người khác qua một biểu hiện, qua một ngày một tháng một năm họ đã sống bằng những thành kiến kinh nghiệm của mình. Có ai hiểu đôi khi thành kiến ấy, kinh nghiệm ấy cũng vô thường.

Lúc em chào mình về, mình nghe hương ngọc lan từ mái tóc em bay nồng nàn trong gió. Chợt mình lặng người khi nhớ đến câu nói trong chốn thiền môn: Tướng tự tâm sinh, tướng tự tâm diệt. Khi trong trái tim con người tràn đầy sự hiểu biết và tình yêu, thì khuôn mặt sẽ biểu hiện rất bình an, thư thái và rạng ngời.

"Từng bước gió mát dậy. Từng bước nở hoa sen." 

Và em gửi mình một bức ảnh hoa sen nhỏ phía sau có dòng chữ : 

"Ăn chay, theo Phật giáo, đó là giới luật: Tránh sát sanh, tránh tạo nên oán nghiệp, và tránh làm tổn thương sự sống muôn loài. Đó là cách để nuôi dưỡng lòng từ bi. 

Còn theo khoa học thì sao? Khi con người hay con vật trong trạng thái căng thẳng, sợ hãi, các cơ quan nội tiết sẽ tiết ra rất nhiều hormon như các catecholamin, steroid ... Những hormon ấy vừa là chất bảo vệ vừa là chất độc. Hãy quan sát một con thú bị giết, nó chưa sẵn sàng để chết, nó run sợ đau đớn khiếp hãi, toàn bộ cơ thể nó tiết ra đầy độc chất. Và con người ăn những miếng thịt đầy độc chất đó vào. Điều gì sẽ xảy ra sau đó? ..."

"Hãy sống hãy ăn và hãy trải nghiệm, bạn sẽ có câu trả lời."



Wednesday, March 19, 2014

Tùy Bút: Hãy nuôi dưỡng lòng từ bi (Liên Thảo)

Cultivate the quality of compassion: Go vegan.

Hãy nuôi dưỡng lòng từ bi
Liên Thảo

Người thế gian thường nghĩ rằng nuôi dưỡng lòng từ bi là đối nhân xử thế với nhau bằng sự cảm thông, bằng tình nghĩa, bằng tình thương giữa người với người, có thể giúp đỡ, chia sẻ với nhau qua lời nói, qua hành động... Với khả năng, với tấm lòng của mỗi người mà đạo Phật thường dùng hai chữ “tùy duyên”, tùy duyên mà độ, tùy căn cơ mà độ.

Hãy quan sát xung quanh, nhìn vào thực tế số lượng người chưa biết ăn chay, chưa giác ngộ về đạo Phật còn quá nhiều bởi lẽ họ quan niệm rằng sống không hại ai là được rồi cần gì phải đến chùa? Cần gì phải ăn chay? Các con vật sinh ra là để phục vụ cho con người, nuôi sống con người, để thỏa mãn nhu cầu ăn ngon của cuộc đời này mà. 

Chính vì chưa biết Phật pháp, chưa thấy những lò giết mổ động vật, chưa từng xem những thước phim về những hành vi của con người khi sát sanh những con vật để cung cấp cho thị trường ăn mặn nên họ thưởng thức món ăn không hề thấy ghê sợ, không hề thấy ác tâm. Dù vô tình hay cố ý, theo giáo lý đạo Phật thì vẫn phải mang tội (tội sát sanh). Trong Phật pháp giáo dục nhân quả là vấn đề chính yếu, gieo nhân xấu tất nhiên phải nhận quả xấu, có khi là quả báo nhãn tiền, có khi là đến kiếp sau mới nhận.

Saturday, December 03, 2011

Tùy Bút: Cõi bình yên (Don Hồ)

Death is inevitable in one's life. According to the Buddhist tradition, when a loved one departs to another realm, it is best to let the soul leave in peace and well wishes.

CÕI BÌNH YÊN…
Don Hồ

Thế rồi mọi thứ rồi cũng qua. Cám ơn nhiều nhiều lắm những ân tình của mọi người trong những lúc thật sự … tang gia bối rối.

Người mất đi rồi cũng theo vào lòng đất theo với những cánh hoa thả lơi, những vốc đất tiễn đưa từ người thân, từ bạn bè. Nỗi buồn rồi chỉ còn sót lại chơi vơi nơi những người sống.

Người ta nói “Thời gian là liều thuốc tốt nhất để hàn gắn những vết thương “không ngoài mặt”". Nhưng tới khi nào rồi thuốc mới ngấm?

Đưa bố về chùa.  Cảnh chùa thanh cảnh, bình yên.  Thầy trụ trì đạo mạo nhưng lại … tếu lâm ngầm.  Khuyên mọi người không nên buồn để vong hồn bố được không bị lấn cấn.  Cách dẫn chuyện của thầy làm mọi người cười khuây khỏa trong cái trĩu nặng của tâm hồn.

Hàng mai dẫn lối vào chính điện, khung cảnh an lành, Phật tổ ngồi trên tòa sen hào quang tỏa sáng…  Hình bố cười hiền lung linh sau ánh đèn cầy và mùi nhang thoang thoảng làm lòng mọi người trùng xuống, cũng an tâm khi bố được gởi ở một chốn thanh cảnh bình yên…


http://donhoproduction.com/blog/

Thursday, December 01, 2011

Tùy Bút: Ngày thứ hai không như mọi ngày - A Monday unlike other days (Don Hồ)

Our condolences to famed singer Don Hồ and family for the passing of his beloved father. May Mr. Hồ peacefully rest in the love of the Eternal Realm.

Xin thành kính phân ưu cùng ca sĩ Don Hồ và gia quyến. Nguyện cầu hương linh thân phụ ca sĩ Don Hồ được an lạc nơi cõi vĩnh hằng. 

NGÀY THỨ HAI KHÔNG NHƯ MỌI NGÀY…
Don Hồ

Và thế rồi bố cũng mất. Dù biết rằng đời người Sinh Lão Bệnh Tử là thế, nhưng vẫn thật buồn…

Ngày thứ hai đầu tuần, bên ngoài đường phố náo nhiệt một tuần mới, nhưng trong bệnh viện dường như chẳng có thời gian tính. Bố ra đi bình an, các con của bố đều trở về bên giường bệnh. Cô y tá nói bố ráng kéo dài thời gian để chờ mọi người…

Có từng đọc ở đâu đó rằng khi mất đi, linh hồn sẽ rời khỏi thể xác, bay bổng lên và nhìn xuống người thân, mình có ngẩng lên ráng kiếm, nhưng hình như bố nhòa vào ánh đèn néon trắng, mắt trần mình chẳng thấy! Và nếu như thật có linh hồn như thế thì chắc bố đã nhìn thấy mình mỉm cười mếu máo. Bố thấy cả mẹ và các anh chị òa khóc. Sao bố không bay ngược trở lại nhỉ?

Các cô y tá nói, thân xác bố đã quá mệt mỏi, bố có sống thêm được cũng sẽ rất tội tình cho bố. Nghe thì có lý thật ấy, thôi hãy để cho bố bình an đi nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra cho dù ráng lắm kềm chế?

Mình nắm bàn tay bố, vuốt cánh tay và vuốt cả trán bố. Tại sao trước đó mình chẳng bao giờ làm được như thế này??? Tại sao người Á Đông lúc nhỏ thì hun hít bố mẹ chùn chụt, nói “Con yêu bố, con yêu mẹ” tỉnh bơ nhưng lớn lên chút thì lại bẽn lẽn không làm như thế nữa được như người da trắng? Tại sao phải đợi đến giây phút cuối cùng rồi mới nắm chặt tay, vuốt trán nhau?

Buổi tối tuy thật buồn nhưng mọi người cũng vẫn phải ăn. Cả nhà kéo nhau ra quán ăn Thái gần nhà để ăn cho tiện, mẹ lẳng lặng quay lơ chậm nước mắt khóc. Mới chợt nhớ ra là mới tuần trước cả nhà cũng mới kéo đến đây ăn. Bố đã ngồi ngay đàng sau mình, áo trắng đeo suspender, bỏ trong quần tây đen. Bố lúc nào cũng chỉn chu như thế đấy. Đi vô ăn tiệm Thái mà cả nhà phải kêu đồ ăn không cay vì cứ đồ ăn có ớt một tí là bố bị sặc. Người lớn tuổi hay sặc lắm, tối nay thì tha hồ kêu đồ ăn thật cay nhé. Nhưng không… vẫn kêu đồ ăn không ớt như thường lệ... Kêu đồ ăn mà có ăn vô đâu? Đi vô tiệm ăn quen này, một sai lầm thật lớn lao quá há bố …

Hình bố thời còn trẻ, trẻ lắm.

Thời ấy nghe kể bố cũng văn nghệ văn gừng lắm. Có thời bố xách đàn mandoline vào bưng biền tham gia trong phong trào chống thực dân cứu nước.

Trước năm 75 còn bố còn lửng tửng cây đàn, nghêu ngao hát. Giọng bố cũng ấm áp, cũng lãng mạn … tiểu tư sản chả thua ai…

Sau 75 bố ngưng hẳn hát…

Một tấm hình lấy từ tấm căn cước tự thuở nào, còn in hằn cả dấu triện. Dưới con mắt của mình thì bố mình hẳn là đẹp trai …

Thời này bố đi làm công chức đây này…


Không, không phải là mình đâu mà bố đang bế anh Thắng, ông anh cả. Lúc này bố mẹ mới theo tàu “há mồm” của Pháp di cư vào Nam. Khó khăn lắm mới kí cóp mua được căn nhà thật nhỏ trong xóm nghèo ở chợ Vườn Chuối, Sài Gòn.

Bố mẹ nghèo lắm, lại chẳng có mấy người thân, nhưng hạnh phúc. Tại sao mình biết ư? Bữa ăn nào mà mẹ chả kể lại cũng bấy nhiêu đó chuyện? Và lúc nào bố cũng cười cười, gật gù lắng nghe giống như mới nghe thấy lần đầu…

Mới Tết năm ngoái đây thôi mà, cả nhà thật vui. Những nụ cười hạnh phúc…

Hình mình chụp cho bìa sách của bố.

Ngó bố ngồi nghiêm chỉnh thế nhưng đâu ai thấy một tay bố phải nắm cái đèn rọi cho sáng mặt đó. Thì mình amateur chụp hình mà.
Bắt bố cười mỉm thôi để nhìn cho “professional”, nhìn cho giống … nhà văn. Bố cười mãi thấy vẫn kỳ kỳ, mình chụp mãi chẳng xong. Bố cáu!
Bây giờ tấm hình này được in lớn ra …
Thèm làm sao một cơn òa khóc thật lớn…

ORANGE COUNTY, CA. 
NOV 28, 2011

http://donhoproduction.com/blog/

Wednesday, May 25, 2011

Tùy Bút: Bỏ thuốc lá vì xấu hổ (Nghê Trường Sinh)

A Vietnamese judge admitted he was "ashamed" of the consequences of his addicitive behavior and was determined to quit smoking more than a decade go. He is now in his 80s, saying he's feeling better and happier. 

Bỏ thuốc lá vì xấu hổ
Nghê Trường Sinh

Vì ghiền thuốc lá tôi đành phải gánh chịu hai lần tủi nhục trong đời.

Lần thứ nhất: tháng 11-1975, tôi nhận chức phó chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau. Sau đó, được phân công đi dự hội nghị tòa án nhân dân tối cao ở Hà Nội, rồi về Thái Bình. Các đồng chí tỉnh ủy, ủy ban, tòa án nhân dân tỉnh tiếp đón nồng hậu, thân tình và mời ở lại một đêm chiêu đãi văn nghệ chèo Quan Âm Thị Kính.

Hơi lạt miệng thèm thuốc, tôi vội móc túi lấy thuốc lá đốt hút trong rạp như ở tỉnh nhà, mắt không rời từng động tác diễn xuất của diễn viên.

Bỗng nhiên trên gác lầu hai có bóng đèn pin rọi thẳng chói lòa vào mặt tôi. Tức giận ngẩng đầu lên định quở trách: "Ai dám vô lễ đến thế đấy?". Chưa kịp mở miệng thì một ông bạn ngồi bên cạnh tôi kề tai nói nhỏ: "Hút thuốc lá nơi công cộng, bảo vệ rọi đèn pin cảnh báo bác đấy". Vỡ lẽ giật mình, luýnh quýnh, tôi giụi lia giụi lịa điếu thuốc, mặt mày sượng ngắt.

Trên sân khấu chèo đến đoạn Thị Mầu ẻo lả gợi tình, lẳng lơ trơ trẽn, khán giả rộ cười biếm nhẽ, còn tôi thì nín thinh, ngỡ ngàng, bẽn lẽn, cay như ăn ớt hiểm.

Lần thứ hai: 22 năm sau (1997) nằm điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất, TP.HCM. Dù bảng cấm hút thuốc treo tại phòng bệnh tôi vẫn lén hút thuốc lá thường xuyên. Một hôm thức giấc nửa đêm, thèm thuốc, tôi rón rén vào nhà vệ sinh khóa cửa lại, đốt một điếu hút ngon lành rồi nhẹ bước về giường ngủ một giấc đến sáng.

Hộ lý vào quét dọn phòng bệnh, mở cửa làm vệ sinh toilet, lật đật lùi ra, cô la lên: "Ai hút thuốc lá trong nhà vệ sinh mà hơi thuốc nực nồng vậy?". Không một ai trả lời, cô tiếp tục giội nước, lau chùi, miệng không ngớt cằn nhằn quở trách.

Phòng bệnh có hai giường, hai bệnh nhân: giường bên cạnh bệnh nhân quê Hà Nội không hút thuốc lá, tôi hút thuốc lá vàng tay. Cảnh ngộ diễn ra khiến tôi hổ thẹn, lấy chăn đắp đầu, không dám lên tiếng nhận tội của mình. Là con nghiện thuốc lá, tôi biết chắc cô hộ lý đang quở trách mình... Nhưng tôi chỉ biết nằm lì, im thin thít, miên man suy nghĩ rồi tự trách mình "không tự trọng", "vô kỷ luật", "đau đớn lắm", "xấu hổ lắm".

Bị thuốc lá quật ngã, tôi suy nghĩ và tự hỏi mình: "Thuốc lá là cái thớ gì mà làm mình thân tàn ma dại, xấu hổ, nhục nhã đắng cay như thế này?".

Tiếp tục đấu tranh nội tâm, củng cố quyết tâm, giảm dần mật độ hút, chờ đến thời cơ ít bữa nữa là 31-5, ngày toàn thế giới không hút thuốc lá, cũng là ngày tuyên thệ với lòng mình, đoạn tuyệt thuốc lá với đời tôi.

Sáng 31-5-1997 tại Bệnh viện Thống Nhất, sau khi ăn sáng tôi lấy một điếu thuốc hút, số còn lại nhét trong cặp, không để trong túi như mọi lần. Tôi tự nhủ: "Thuốc lá còn đó nhưng cấm mày hút nữa. Mày đã thấy tác hại và nhục nhã đối với đời mày rồi. Phải chấm dứt ngay".

Đúng vậy, từ hôm ấy đến nay hơn mười năm trôi qua tôi không bao giờ cầm hoặc hút một hơi thuốc lá.

Cai được thuốc lá hết sức phấn khởi, vừa điều trị, an dưỡng phục hồi chức năng, thể dục dưỡng sinh, ăn ngủ điều độ... các bệnh phát hiện năm 1980 giảm nhiều, có bệnh khỏi hẳn. Tôi tăng 10kg (55 lên 65kg) mập mạp, hồng hào, trí nhớ tương đối tốt, lạc quan yêu đời, dù đã 82 tuổi. Hiện nay chủ yếu còn thiếu máu cơ tim nhưng nhẹ hơn lúc hút thuốc lá.


http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Song-khoe/260047/Bo-thuoc-la-vi-xau-ho.html

Friday, April 22, 2011

Tùy Bút: Có tội hay không có tội (Le Hoa Wilson)

The author of this essay, Mrs. Le Hoa Wilson, is a Vietnamese Buddhist married to an American Catholic. Despite earlier societal challenges in their interracial relationship, in the end, love always reigns supreme and harmony abounds. In this eloquently told story, she asks, "Both Buddha and Jesus are compassionate and just, do you agree?" Yes, we do. Thank you for sharing your sweet love, Mr. and Mrs. Wilson.

Có tội hay không có tội
Le Hoa Wilson

Tôi thật không biết phải bắt đầu từ đâu để câu chuyện đời lộn xộn của mình có được một chút ngăn nắp để bạn hiểu tôi hơn. Thôi thì bắt đầu vào một ngày nắng đẹp, tôi bước ra khỏi tòa án Saigon với cái giấy ly dị trên tay. Tôi có một trai và một gái và quan tòa đã rộng lượng xử cho tôi được trọn quyền giữ cả hai với điều kiện là không nhận được chu cấp từ người chồng. Tôi hoan hô quan tòa cả hai tay. Đó là năm 1969.

Bà chị tôi có hãng thầu cung cấp dịch vụ hớt tóc, giặt quần áo, bán hàng kỷ niệm cho quân nhân Mỹ tại Việt Nam và hàng ngàn xe đá để hãng RMK làm phi trường. Đó là một công cuộc làm ăn lớn lao có tới vài trăm nhân viên nên chị nhận cho tôi theo làm để nuôi con. Do đó tôi gặp Ron, người chồng hiện tại.

Bạn ơi, không biết tôi đã tốn bao nhiêu nước mắt cho cuộc hôn nhân nầy. Không biết tôi đã nhận được bao nhiêu lời sỉ nhục khi đi sánh đôi với người chồng Mỹ tại Việt Nam. Nếu phải đếm hết những danh từ thô bỉ, những ánh mắt chê bai, những đối xử khinh bạc của bạn bè, của những người quen biết cho đến những kẻ qua đường vì tôi "lấy Mỹ" thì chắc tôi phải biến thành con rết khổng lồ với cả ngàn chân tay mới đếm hết nổi. Thôi thì chẳng qua là cái nghiệp. Chắc mình đã dè bỉu, chê bai bao nhiêu là người ở những kiếp trước nên kiếp nầy nhận lại "gậy ông đập lưng ông" thôi mà.

Mỗi lần bị "tai nạn" như vậy, tôi giã vờ phớt tỉnh. Những dòng nước mắt tủi hổ cứ chực tràn ra. Ông xã cứ hỏi là "họ nói gì vậy?", tôi thì cứ "ai biết đâu, họ dùng danh từ em không hiểu!". Nhưng ông xã thì biết vì anh có rất nhiều nhân viên Việt Nam làm việc cho anh và chắc họ đã giải nghĩa cho anh hiểu địa vị của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội khi họ vô phước kết hôn với người Mỹ.

Sau khi anh hiểu được, tôi không bao giờ quên được ánh mắt của anh nhìn tôi trong những lần "tai nạn" đó. Đôi mắt anh chứa đầy những biết ơn, những chia sẻ, những đau thương, những căm giận, những cảm thông... Anh cầm tay tôi nói: "Thật là không công bình cho em. Anh rất biết ơn em. Sự chịu đựng những nỗi nhục nhằn của em làm tan nát tim anh. Anh cảm thấy không xứng đáng với sự hy sinh của em." Tôi chỉ nói nhỏ: "Cả hai, em và họ đều là nạn nhân, mỗi người mỗi cách. Có phải chúng ta đã hứa là sẽ cùng chung chịu những niềm vui và nỗi khổ trên đời không? Vậy đó không phải là sự hy sinh. Đó chỉ là sự chia sẻ."

Và tôi đã sát cánh cùng anh nổi, chìm trong cõi ta bà, trong nụ cười khi gia đình xum hợp, trong nước mắt khi một đứa con sớm vội ra đi, trong thành công, trong thất bại suốt bốn chục năm qua.

Rồi trời đất nổi cơn gió bụi. Năm 1975 tôi dắt díu các con về Mỹ sống tại California. Bà mẹ chồng ở tận Boston qua CA thăm cháu nội và dâu lần đầu tiên.

Mẹ ruột kẹt lại quê nhà, mẹ chồng ở kề cận, thôi thì hãy vui với hiện tại và những gì mình có. Gạo trồng ở Việt Nam hay trồng ở Mỹ thì cũng nấu thành cơm. Mẹ ruột hay mẹ chồng thì người đàn bà đó cũng đã thương yêu và dưỡng nuôi người mình yêu dấu. Bà hỏi chớ các cháu đã được rửa tội chưa? Tôi nói ngắn gọn "Dạ chưa. Con đạo Phật." Bà mỉm cười không nói gì và không bao giờ nhắc lại.

Hình như người Mỹ có tâm hồn rộng rãi hơn. Bà thường hay lục lọi và gởi về cho cháu nội những quyển Thánh kinh rất cũ của gia đình. Tôi nhận và trân trọng giao lại cho các con. Mẹ chồng gần với con dâu hơn người con ruột.

Thời gian qua, một hôm thằng con cả báo cho mẹ biết là nó muốn cưới vợ. Mình đã già rồi mà không hay bạn ơi. Khi nghe con trình bày mọi điều, bà chị la làng chói lói. Trời ơi, nó là con trai lớn nhứt mà theo đạo Chúa thì lấy ai mà thờ phượng em? Bạn ơi, bạn nghĩ sao? To be or not to be? Nói Yes, con cứ tiếp tục lo hôn lễ hay nói No, No Way.

Hừm, thờ phượng là nó sẽ nhớ tới ngày mình theo Phật, mua một mâm đủ cả heo quay, gà vịt, có cả bia rượu, bưng lên bàn thờ để một tiếng đồng hồ rồi dọn xuống mời bạn nhậu? Hay là nó cúng mâm chay nhưng lại không ăn? Hay là nó tới chùa nhờ thầy đọc một thời kinh? Thầy lo đọc, nó lo nhớ tới cái đầu gối hơi đau vì quì lâu! Hay nó dọn một cái bàn thờ trong nhà, chưng cái hình mình lên. Có ai đó hỏi con nó chớ hình của ai vậy thì thằng cháu nội nhìn hình và nói "I don't know"!

Chỉ còn cách hỏi nó.

Cô đó hiền không? Dạ hiền. Cô đó giỏi không? Dạ giỏi. Cô đó thích săn sóc con cái, nhà cửa không? Dạ thích. Cô đó thương con không? Dạ thương. Vậy thì yes, con ơi, yes. Mẹ chỉ cần thấy con được hạnh phúc, an vui. Mẹ tin vào sự khôn ngoan và lựa chọn của con (cho con học bao lâu chắc con không ngu đâu, phải không).

Vợ chồng con thương yêu nhau và tử tế với mẹ khi mẹ còn sống là con đã "thờ phượng" mẹ rồi. Trong con đã có dòng máu của mẹ. Con làm một người chồng tốt, một người cha tốt, một con người tốt là con thờ phượng mẹ đó, phải không? Bạn ơi, bạn có thấy tôi quá "văn minh" không? Quá... quá... tiếng gì hả mà người Mỹ thường hay chỉ mấy ông nghị viên trong đảng dân chủ đó? À à, quá "liberal" không?

Vậy là tôi có hai thằng con theo đạo Chúa của vợ và năm đứa cháu nội biết Phật là Budha chớ chẳng biết Nam Mô. Quên cho bạn hay là tôi đã không rửa tội hoặc bắt các con theo đạo nào hết. Tôi để cho chúng tự do chọn lựa khi chúng đến tuổi trưởng thành (hoặc "được" vợ dẫn dắt). Tuy nhiên tôi cũng thường đem các con đi chùa khi chúng còn nhỏ và mỗi khi tết tôi đều dạy chúng lạy bàn thờ Phật và bàn thờ tổ tiên. Cho đến bây giờ vẫn vậy. Phải lạy bàn thờ. Đó là điều kiện duy nhứt tôi đòi hỏi gia đình các sui gia trong ngày cưới, dù họ là đạo nào. Tôi kính trọng tất cả các đấng dẫn dắt linh hồn.

Mỗi khi gia đình tụ họp tại nhà thằng con cả, nhằm ngày ăn chay, tôi luôn có ít nhứt một món chay rất ngon do con dâu Công giáo nấu. Tôi biết ơn chúa Jesus quá đỗi vì con dân của Ngài quả là một người đầu bếp giỏi và là một đứa con dâu rất hiếu thảo.

Thế là tôi trở thành minority, có nghĩa là thiểu số trong gia đình tôi. Ông xã, hai thằng con, hai cô dâu, năm đứa cháu nội, tất cả là mười người con Chúa. Một đứa con gái và chồng cùng ba đứa con tin tưởng cả Phật lẫn Chúa. Ngày lễ Giáng Sinh và cuối tuần thằng cháu ngoại mười hai tuổi đi đờn violon trong nhà thờ. Khi về nhà ngoại thì vô lạy Phật và... ngồi thiền!

Thằng con út thì, bạn có thể gọi nó là người vô tôn giáo, khuyên các cháu không nên mỗi chút mỗi đổ thừa cho Chúa và khi xin tội thì phải nhớ chừa cái tội đó đừng lặp lại và nhận xét rằng thuyết nhân quả của nhà Phật rất hay nhưng đôi khi Phật tử lạm dụng thuyết nhân quả để chê đè người khác và vì thế làm cho người ta đau khổ. Bạn thấy nó đúng không? Nó mới hai mươi bảy tuổi và đôi khi nó nói chuyện đạo Phật làm tôi cũng ngẩn ngơ. Nó nghiên cứu đạo Phật bằng tiếng Mỹ. Tôi học Phật bằng tiếng Việt. Không biết có khác nhau nhiều không?

Nói cho bạn mừng dùm là dù thiểu số nhưng đạo Phật trong nhà tôi vẫn thịnh vượng. Tôi chưng bày tượng Phật tùm lum, trong vườn hoa đằng trước, trong sân đằng trước, trong vườn hoa đằng sau, trong sân đằng sau, ngay giữa vườn, trong luống hoa, giữa bụi lan... Bàn thờ Phật ở phòng khách, bàn thờ Phật trong phòng thờ, tượng Phật trên đàn dương cầm, tượng Phật trên đầu ti vi. Đây cũng là một tội ăn hiếp người (chồng) quá đáng, chắc kiếp sau lại phải trả thôi.

Rồi cách đây hai tháng, khi anh và tôi cùng ở tuổi bẩy mươi, phải bạn ơi cái tuổi “thất thập cổ lai hi” đó, thì có một người quen từ Việt Nam qua chơi. Người nầy đã đi tu Chúa khi còn con gái mười bẩy tuổi và hiện nay năm mươi bẩy tuổi và đã được lên chức Mẹ Bề Trên. Trong khi trò chuyện, Sơ (xin tạm gọi như thế cho gọn) khám phá ra là chồng thì đạo Chúa chánh gốc (quên nói cho bạn biết là mẹ chồng mình gốc gác người Ý), đã được rửa tội, đã hưởng hết các phép ban ơn v.v... mà lại đi cưới một người vợ ngoại đạo, lại còn không bắt vợ theo đạo của mình. Thế thì khi chết sẽ không được vào nước Thiên Đàng, sẽ không được Chúa tha thứ, sẽ xuống địa ngục v.v... Và Sơ chỉ cho tôi nên đi kiếm Cha để xin Cha làm phép, xin Chúa tha tội cho ông xã để ông xã được trở về với Chúa.

Tôi hoảng hồn nghĩ mình thật là tội lỗi, bấy lâu nay chỉ lo cho linh hồn của mình, còn người bạn đời thì mình lại thờ ơ, may mà có Sơ nhắc nhở. Tôi bèn dịch lại những lời Sơ nói. Ông xã vẫn làm thinh (lại cho bạn biết anh là người ít nói nhứt thế gian, bạn có biết tại sao không? Vì chị vợ đã nói hết thời gian rồi, anh chồng làm gì còn chỗ và thời gian để nói nữa, đã cưới nhau bốn mươi năm rồi, phải quen tánh quen nết chớ, phải không bạn?). À hình như anh có lầm thầm cái gì là anh chưa từng bao giờ bỏ Chúa thì tại sao phải trở lại? Tôi thì sợ hãi nên thúc giục anh mau đến tìm Cha.

Bạn có thấu hiểu được nỗi đau lòng của tôi không? Chắc là không. Vì để hiểu được bạn phải ở trong hoàn cảnh nầy và tôi thì không muốn cho bất cứ ai vướng vào cái vòng tục lụy nầy hết. Giống như cái ông gì đó (trí óc tôi lúc nầy chậm chạp quá, đã quên béng tên ổng) đang làm quan lớn với đầy đủ vợ đẹp, con khôn, quyền cao, chức trọng thì bỗng giựt mình tỉnh giấc nam kha thấy mình vẫn đang ngồi dưới đất, vợ con không, lầu đài không, tiền bạc không, quan chức không.

Giống như bạn, tôi đã "cho anh cả cuộc đời", những tưởng mình đã cùng ai chung chịu nhục nhằn, hạnh phúc, đã cùng ai nở nụ cười, lau nước mắt, đã cùng ai ngẩng mặt, cúi đầu... Ngờ đâu bừng con mắt dậy thấy mình tay không! Mình đã đẩy người ta xuống địa ngục, mình là nguyên nhân để người ta xuống địa ngục. Bạn khuyên tôi phải làm sao? Người ta xuống địa ngục chưa thì tôi không biết, mà tôi thì đã ở trong đó rồi. Lòng tôi tan nát, bạn ơi. Tôi phải đọc tụng kinh gì hả bạn? Lương Hoàng Sám? Thủy Sám? Mà tụng thì ăn thua gì! Nếu tụng mà hết được tội đẩy người xuống địa ngục thì tôi nguyện đọc mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, từ đây cho đến hết cuộc đời.

Ngày hôm sau khi ngồi ăn cơm, dưới cái diã, tôi thấy một cái bao thơ, giống như cái card chúc tết hay chúc sinh nhựt vậy. Tôi ngạc nhiên vì không phải tết, cũng chẳng là sinh nhựt. Anh chẳng nói gì. Tôi mở card ra đọc những dòng chữ có thể dịch ra Việt ngữ như sau:

"Nếu phải xuống địa ngục và vĩnh viễn bị cấm cửa Thiên Đàng thì anh sẵn sàng và hạnh phúc chấp nhận. Ngày em nhận lời làm vợ anh là ngày Chúa đã ban ơn phước cho anh và chấp nhận anh vào cõi Thiên Đàng và anh đã ở Thiên Đàng từ dạo đó, nay sao lại còn phải xin xỏ để trở vào? Anh không ăn năn. Anh không ân hận. Anh không van xin. Anh chắc rằng Sơ đã không nhìn thấy những giọt nước mắt của em đã đổ ra cho anh, vì anh, vì hạnh phúc của anh, vì tội lỗi của anh. Nếu thấy thì anh lại tin chắc rằng Sơ sẽ bảo anh : “Con hãy cám ơn Chúa đã cho con gặp người vợ ngoại đạo nầy”. Em hãy yên lòng, đừng thúc giục anh tìm Cha. Chúa rất nhân từ và thông cảm. Anh đang ở Thiên Đàng."

Đọc xong, tôi ngẩng lên nhìn anh. Tôi lại để cho nước mắt chảy ra thấm ướt tờ thư. Đã lâu rồi tôi không khóc. Lần nầy tôi không cố ngăn lại. Khóc được cứ khóc bạn ơi. Chỉ sợ rằng mình không khóc được và không được khóc!

Bạn có thấy dị không khi một bà già bẩy mươi tuổi còn khóc được vì một lá thư... (có thể gọi là thư tình không bạn?). Không, đây không phải là thư Tình! Đây là thư Nghĩa! Tình yêu sôi nổi với dục vọng, với ghen tương, với giận hờn đã qua lâu rồi. Đây là sự thương yêu, nâng đỡ, dắt dìu nhau của hai con người đang đi vào đoạn cuối của cuộc đời mà không lãng quên những hứa hẹn ở buổi ban đầu. Đây là Nghĩa Vợ Chồng. Dù cho bạn có thành hôn với người Việt Nam, người Mỹ, người Trung Quốc, người Đại Hàn, người Pháp, người da đen, da trắng, da màu... thì nó vẫn tồn tại và rực rỡ trong tâm bạn.

Tôi hy vọng mãnh liệt rằng Chúa sẽ không bắt tội anh vì tôi tin rằng anh đã sống giống như ý Chúa: Thương Yêu, Trung Thành và Nhân Ái.

Đây là một phần câu chuyện đời lộn xộn của tôi và tôi xin chia sẻ cùng bạn với tất cả trái tim tôi. Có tội hay không có tội? Anh đã đi trật đường của Chúa dạy? Anh đang từ bỏ Thiên Đàng và trên đường xuống địa ngục? Anh thật không biết. Tôi là tên ác quỷ đang đẩy người vào chốn tối tăm? Tôi thật không biết. Chúng tôi chỉ biết cầu xin Chúa và Phật cho chúng tôi được có mặt bên nhau những khi hoạn nạn, được giúp đỡ nhau những lúc vấp ngã, được nấu cho nhau chén cháo trong lúc ốm đau, được nắm tay nhau mỉm cười khi mở cửa nhà đón đàn con cháu.

Bạn ơi, tôi không cần phải có bàn thờ và anh thì không cần phải kiếm Cha để rửa tội. Tôi vẫn là một Phật tử thuần thành và anh vẫn làm dấu thánh giá. Chúng tôi không quá "liberal" phải không bạn? Thiên Đàng và Niết Bàn của chúng tôi có nghĩa là "in the here, in the now" như Sư Ông Nhất Hạnh vẫn nói. Không biết chúng tôi có hiểu đúng ý của Sư Ông không?

Hai chúng tôi Tội Lỗi và Hạnh Phúc ngang nhau. Cả Phật, cả Chúa đều rất Bác Ái và Công Bằng, Bạn đồng ý không?


http://phusaonline.free.fr/XaHoi/2010/39_co-toi-hay-khong.htm

Friday, April 01, 2011

Tùy Bút: Đi cũng là về! (Đỗ Hồng Ngọc)

Dr. Đỗ Hồng Ngọc wrote about his good friend songwriter Trịnh Công Sơn, posthumous recipient of the 2004 World Peace Music Award. Mr. Trịnh Công Sơn, who composed hundreds of memorable songs for love and peace, passed away ten years ago on April 1. His music continues to be adored and performed by countless artists, including American musicians who learned Vietnamese to translate and sing his oft philosophical ballads.

Đỗ Hồng Ngọc

Có người hỏi tôi có phải Trịnh Công Sơn là một thiền sư không mà sao cứ thấy tôi nhắc và trích dẫn ca từ của anh trong các bài viết về Thiền, về Phật pháp của tôi?

Với tôi, Trịnh Công Sơn không chỉ là một “Thiền sư” mà anh còn là một vị “Bồ tát”. Dĩ nhiên “Bồ tát” trong cái nhìn của tôi thôi, bởi vì, anh đã mang đến cho tôi- và có thể cho nhiều người khác nữa- biết bao niềm phúc lạc, bình an, cũng như biết bao nỗi xót xa, khắc khoải… tùy theo lứa tuổi của mình như một thứ “vô lượng nghĩa” kinh…


Mãi đến vài năm sau khi anh mất, tôi mới viết được một bài thơ nhỏ về anh: “Kẻ rong chơi”. Phải, theo tôi, anh là một kẻ rong chơi. Một vị “Bồ tát” hẳn nhiên là phải rong chơi trong cõi Ta bà thôi, với cái tâm không phân biệt, không chấp trước. Rong chơi thôi đã là quá đủ. Và không dễ. Bởi khi ta mất đi sự rong chơi, tức khắc ta rơi vào những “điên đảo mộng tưởng”…
Khi có cái tâm Bồ tát, người ta “thị hiện” ở cõi người như một cuộc “du ư ta bà thế giới”, để chia sẻ những niềm vui và cả những nỗi đau để rồi một hôm “ta lắng nghe ta”
thì chợt nhận ra một nỗi niềm “từ bi bất ngờ” ập đến, từ đó biết ra “một cõi đi về” thênh thang!

Khi viết “Gió heo may đã về” tôi nhìn Trịnh Công Sơn khác với khi tôi viết “ Nghĩ từ trái tim”. Ở Gió heo may đã về, Trịnh Công Sơn là của “cát bụi mệt nhoài”, còn ở Nghĩ từ trái tim, Trịnh Công Sơn là của “ta là ai mà còn trần gian thế”? Một câu hỏi như vậy mỗi chúng ta chẳng đã từng khắc khoải tự hỏi với chính mình đó sao?


Câu trả lời có đó rồi: “Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt/ rọi suốt trăm năm một cõi đi về”. Đi cũng là về. Về cũng là đi. Nó không từ đâu đến, cũng chẳng về đâu (Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ). Chính là cái mà Bùi Giáng vẫn thường hay nói “Hà dĩ cố? Chơi thôi mà!”. Đôi vầng nhật nguyệt ấy là “minh”. Một thứ ánh sáng vẫn soi suốt dặm trường. Ta là ai mà còn trần gian thế? Ta là ai mà yêu quá đời này? Sao không qua bờ bên kia (đáo bỉ ngạn) đi, sao không “thị hiện”… niết bàn đi, mà cứ phải loanh quanh cho đời mỏi mệt?

Tôi quen Trịnh Công Sơn từ cái đêm anh ôm đàn hát một mình dưới mái hiên tôn một tối ở sân trường đại học văn khoa Saigon thưở đó. Một người gìa trong công viên/ một người điên trong thành phố/ một người nằm không hơi thở/ một người ngồi nghe bom nổ… Anh nói tiếng nói của chúng tôi. Tôi nghe mình buốt lạnh: Vết lăn vết lăn trầm… Bài ca dao trên cồn đá; ôi quê nhà một thời… / đại bác đêm đêm dội về thành phố, em bé co ra, từng hạt cơm khô, em bé lỏa lồ, khóc tuổi thơ đi…
Lứa chúng tôi, nói như bạn tôi, Lữ Kiều không chọn lịch sử mà lịch sử chọn mình. Anh biết tôi với tên Đỗ Nghê, những bài thơ gần gũi trên Bách Khoa, Tình Thương… Anh thường gởi tôi những em bé với đôi dòng nguệch ngoặc: Gửi Đỗ Nghê… chăm sóc giùm…

Mỗi lần tôi ghé nhà thăm anh thường kêu to: “Lấy cho cậu Ngọc một ly nước lọc”! Anh biết tôi không rượu, không thuóc lá. Và không ép. Những khi đông vui, ly này ly khác, thuốc lá chuyền tay, anh vẫn gọi người nhà: Lấy cho cậu Ngọc một ly nước lọc!

Khi tôi in tập thơ Giữa hoàng hôn xưa, thì bìa là của Trịnh Công Sơn với một bức vẽ thiệt ngộ dành riêng cho bài “Thư cho bé sơ sinh”… Khi viết Gió heo may đã về, tôi dùng những ca từ của anh để đặt các tiểu tựa, Trịnh Công Sơn bèn “viết thêm” mấy dòng ở lời Bạt. Anh nói: Moi sẽ nói ngược lại ý toi cho vui nhé. Toi nói “có già”, moi sẽ nói không có già nhé! Và rồi, anh viết “Không có già, không có trẻ. Nói với một người trẻ tôi già rồi em ạ là một điểu vô lễ”.


Đỗ Trung Quân nhận ra ngay vụ “cãi vả” này và bảo sao cho đến cùng, bác sĩ nói có, nhạc sĩ bảo không… trong một bài viết trên Tuổi Trẻ: Như sông vào biển.

Năm 1997, nghe Trịnh Công Sơn bệnh nặng, đang nằm ở khoa Săn sóc đặc biệt bệnh viện Chợ Rẫy. Tôi đến thăm. Cả nhà đang bứt rứt lo lắng đi qua đi lại trước cửa phòng, vì không ai được vào. Tôi trong nghề nên được các đồng nghiệp cho vào thăm sau khi đã khoác thêm blouse trắng, đổi giày… đâu đó chỉnh tề. Ôi Trịnh Công Sơn đó ư? Một cái xác ve xẹp lép, nhẹ tênh trên tấm drap trắng với nồng nặc mùi nhà thương và bao bệnh nhân hấp hối xung quanh. Ôi, biết bao ca khúc say đắm thẩn thờ là từ cái xác ve xẹp lép nhẹ tênh này đó sao? Có cái gì đó đã bay lên làm nên một Trịnh Công Sơn từ trong tứ đại ngũ uẩn này đó vậy? Có cái gì đó “mặc khải” chăng? Có cái gì đó “thị hiện” chăng? Đã mượn anh để trình hiện như hoa sen trong đầm lầy, như quỳnh hương thoáng sát na?


Tôi lay nhẹ. Anh mở mắt. Nhìn chầm chậm rồi lóe sáng “Toi mới về đó hả?” Thì ra anh vẫn tỉnh, vẫn nhận ra tôi, còn biết tôi vừa mới về sau chuyến tu nghiệp ngắn ở Paris. Tôi mừng quá. Một cô y tá đến chích thuốc. Tôi hỏi cô có biết ai đây không? Cô lắc đầu. Trịnh Công Sơn đó. Cô hơi ngớ ra. Tôi nói thêm: nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đó. Cô có vẻ kinh ngạc. Hình như cô kêu lên, không ra tiếng: Trịnh Công Sơn đây sao? Trịnh Công Sơn đây sao?


Tôi thăm khám qua và bảo không sao đâu. Gan thôi. Gan anh thòng xuống đến 7cm dưới bờ sườn phải. Thực ra bệnh anh nặng hơn nhiều với nào tiểu đường, nào khớp, nào phổi, nào thận…(Trước đó tôi đã được tham khảo bệnh án). Mấy ngày sau, anh được chuyển lên phòng riêng ở tầng thứ 11. Lần này tôi đến đã thấy anh thảnh mảnh.

Khi anh được về nhà, thỉnh thoảng tôi lại ghé thăm. Lấy cho cậu Ngọc ly nước lọc nè! Anh lại kêu. Anh khoe mấy bức tranh mới, nêu những ý tưởng mới… “Moi quyết định bỏ rượu và bỏ thuốc lá rồi. Mỗi sáng đi bộ được một quãng…”. Anh nói. Tôi cười cười. Lần sau đến, anh nói: Moi quyết định bỏ thuốc lá thôi. Thuốc lá mỗi người một gu, nhưng rượu thì mọi người đều có thể uống chung với nhau được. Bạn đến đông vui không thể không uống chút rượu. Anh giải thích. Tôi vẫn mỉm cười. Anh có lý. “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”? Vấn đề là chất lượng cuộc sống chứ!

Rồi đùng cái tôi bị tai biến mạch máu não phải mổ cấp cứu. Những người bạn đến thăm lần này lại có Trịnh Công Sơn. Anh đi cùng Lữ Quỳnh. Trịnh Công Sơn ôm theo một bó hồng vàng. Lúc nào anh cũng tươm tất như vậy. Tôi khoe anh mấy bức ký họa trên giường bệnh của mình. Cái đầu trọc lóc bình vôi. Anh có vẻ khoái lắm. Hình như anh cũng đang tủm tỉm cười: Đó, thấy chưa? Toi không rượu không thuốc lá!

Rồi một hôm, Lữ Kiều phone báo tôi Trịnh Công Sơn đi rồi.
Đi vào ngày 1.4, ngày của Cá.
Đi, cũng có nghĩa là về vậy./.


http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/di-cung-la-ve/

Tùy Bút: Huế chay (Cao Huy Hóa)

A vegan diet has often been associated with purity, and Huế, the ancient royal capital of Việt Nam, has plenty of that, plus a deep-rooted tradition of veganism.

Tác giả: Cao Huy Hóa

**Nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn luôn trung thành với giọng Huế, và chính ca sĩ Khánh Ly xác nhận, trong thời gian chàng thanh niên họ Trịnh ở Đà Lạt: “Dân Đà Lạt, đa số nói tiếng Huế hơi lai, nhưng Sơn là “Huế chay”.**

Từ ngày đất nước thống nhất, tôi đã đi nhiều miền của đất nước, được thưởng ngoạn nhiều thắng cảnh, sinh hoạt phong phú, được thưởng thức nhiều món ăn… lại còn thích thú nghe được giọng nói của các vùng, các địa phương. Đây cũng là một khám phá nếu mình đi tàu Thống Nhất, dịp con tàu mới nối chiều dài Bắc Nam, những giọng nói khác nhau trên mỗi chặng hành trình, từ khách đi tàu, từ những người buôn bán, từ những tiếng rao hàng.

Giọng nói gắn với con người và được sử dụng tự nhiên như là hơi thở, bình thường ít mấy ai quan tâm, nhưng khi đi xa lâu ngày thì nó trở thành nỗi nhớ nhung chi lạ. Thời còn trẻ, tôi đã xa Huế. Một lần bất chợt nghe radio: “Đây là đài phát thanh Huế…” từ giọng nói của cô xướng ngôn viên giọng Huế, tôi ngẩn ngơ nhớ xứ Huế quê mình, mà thật lạ, bình thường ở Huế thì tôi không để ý, nhưng lần đó nghe giọng nói răng mà trong trẻo, dễ thương, nhẹ nhàng như vậy.

Đi xa, càng xa Huế mà bắt gặp giọng Huế thì như gặp được bạn cố tri. Đến Phú Quốc theo một tour du lịch, trong tâm trạng háo hức thưởng ngoạn hòn đảo tận phía Nam đất nước, được trò chuyện với người địa phương nói giọng miền Nam truyền thống của những người khai phá, chợt lắng lòng bâng khuâng khi anh hướng dẫn viên du lịch, vốn hoạt náo với khách, đến tâm tình với mình về gốc gác Huế bằng giọng Huế như mình.

Hay một lần đến chợ Đà Lạt, đang sử dụng tập tểnh một thứ giọng miền Nam trao đổi với người bán thì được “đáp lễ” bằng một giọng Huế chính hiệu, tôi cảm thấy vừa “quê” vừa vui, nhưng đúng là vui cùng quê vì tôi và người bán hàng cùng tâm đắc quê Huế.

Giọng Huế gắn liền với một kho tàng ngôn từ dân gian Huế được truyền khẩu qua bao thế hệ, như hình với bóng. Giọng Huế là đặc trưng của văn hóa Huế, con người Huế. Đó là nền tảng của loại hình nghệ thuật: hò Huế, ca Huế, ngâm thơ Huế, hát bội Huế. Người nghe biết cảm nhận: Cái gì ra cái đó, không thể giọng nào khác mà ca Nam Ai, Nam Bình, cũng như không thể giọng Bắc mà ca ngọt cải lương…

Ngay trong ca khúc hiện đại, giọng Huế vẫn có nét riêng: nữ ca sĩ Hà Thanh sáng giá một thời nhờ giọng Huế trong trẻo, truyền cảm; nữ ca sĩ Vân Khánh vẫn thu được cảm tình của đông đảo quần chúng khắp mọi miền nhờ giọng Huế ngọt ngào, dễ thương. Về nhạc điệu trong giọng Huế thì tôi không để ý, nhưng nữ ca sĩ Khánh Ly – gốc Bắc – nhận xét: “Con gái Huế nói như hát …”[1]. Đúng là giọng Huế có gì đặc sắc nên nghi thức tán tụng kinh Phật theo giọng Huế có sức cuốn hút người dự trở về tâm thanh tịnh, xa rời phiền não.

Giọng Huế theo người con gái đi về nhà chồng nơi xa, như là của hồi môn văn hóa phi vật thể. Cũng như thế, những người con Huế, đi định cư ở những phương trời xa lạ hàng mấy chục năm, khi trở về sau ngày đất nước thống nhất, sau khi tay bắt mặt mừng, được bà con khen: “Giỏi hí! Răng mi xa Huế lâu mà vẫn nói giọng Huế ngon lành rứa?”.

Giọng Huế là một đặc sản của ngành du lịch Huế. Du khách đến Huế rất thích thú nếu tiếp xúc với nhiều người nói giọng Huế, từ hướng dẫn viên du lịch niềm nở đến cô tiếp tân khách sạn ân cần, cô nghệ nhân ca Huế ngọt ngào đến các chị bán hàng khéo chào mời ở chợ Đông Ba… Cái đọng lại sau chuyến đi thăm Huế thế nào cũng có dư âm giọng Huế.

Việc giữ giọng nói địa phương là một việc tự nhiên, phần lớn từ cha sinh mẹ đẻ, hoặc từ vùng đất mà mình sinh ra, trưởng thành và học tập, làm ăn sinh sống. Việc chuyển đổi giọng nói hoặc luân chuyển sử dụng giọng nói do nhu cầu giao thiệp, sinh sống là một việc bình thường. Nhiều ca sĩ người Huế nổi tiếng toàn quốc, chỉ sử dụng giọng Huế của mình khi về quê hương, còn thì trên sân khấu ca nhạc giao lưu với khán giả mọi miền vẫn ngon lành giọng Bắc.

Nhưng nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn lại khác: luôn luôn trung thành với giọng Huế, và chính ca sĩ Khánh Ly xác nhận, trong thời gian chàng thanh niên họ Trịnh ở Đà Lạt: “Dân Đà Lạt, đa số nói tiếng Huế hơi lai, nhưng Sơn là “Huế chay”"[2].

“Chay” là gì? Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học năm 2006 ghi những nghĩa như mọi người hiểu của “chay”, “ăn chay”, “cơm chay”, “bánh chưng chay”, “lập đàn làm chay”, “chay tịnh”, và thêm nghĩa: “Không có cái bổ trợ để làm cho tốt hơn”, dẫn chứng “thửa ruộng cấy chay” (không bón phân) – những từ này miền Nam không phổ biến -, “dạy chay” (không có đồ dùng giảng dạy, thí nghiệm minh họa) – hai từ này quen thuộc quá đối với thầy cô giáo, phổ biến toàn quốc từ năm 1975 -; ngoài ra, không có từ “chay” theo ý nghĩa của tiếng hoặc giọng nói.

Thế nào là “Huế chay”? Đó là giọng nói Huế thuần túy, không pha giọng khác, của người sinh ra, lớn lên và sống tại Huế. Xin trích một đoạn văn tôi đọc tình cờ trên mạng của một chàng già đời, lãng tử để gọi là cho vui: “Tui là dân Huế chay, tức là Huế 100%, Huế từ trong ra ngoài, Huế đến nổi ra Bắc vào Nam, lên vùng cao nguyên tắm đủ sông hồ ao lạch mà cũng không gột rửa chất Huế trong người”.

Nhưng vì sao chỉ nghe nói đến Huế chay mà không nghe Hà Nội chay, Sài Gòn chay, Bình Định chay? Người Bắc xác nhận có giọng Hà Nội thuần túy, nhưng không ai gọi Hà Nội chay mà chỉ gọi Hà Nội gốc. Phải chăng từ “chay” trong Huế chay là từ đặc biệt của Huế, phổ biến cách đây không lâu (nhưng chắc chắn là trước thời kỳ mà người ta dùng những từ như: chay, mặn, của chùa theo ý khác, có tính cười cợt, châm biếm?). Từ “chay” này có liên hệ gì với chuyện chay, mặn trong ăn uống? Chắc không ai nghĩ thế, nhưng có thể nào “chay” trong giọng nói và “chay” trong ăn chay có một liên kết? Phải chăng cả hai cùng thể hiện mặt sinh hoạt trong con người Huế bình thường?

Trước đây, hầu như mọi người Huế là có tôn giáo, phần đông là Phật tử, vì thế chuyện ăn chay là phổ biến, có người thì trường trai, người thì thập trai, tứ trai,… phổ biến là nhị trai (ngày rằm, mồng một). Trong hai ngày nhị trai đó, Huế khác hẳn ngày thường: nhà nhà lau chùi bàn thờ, chuẩn bị hương hoa cúng Phật, cúng ông bà; đa số cửa hàng ăn thì chuyển sang bán đồ chay hoặc tạm nghỉ, các chùa và niệm Phật đường thì trang nghiêm chuông mõ, kinh kệ,… Trầm hương đốt thơm ngát mười phương. Nhưng đó là Huế của một thời bất an vì chiến tranh.

Ngày nay, Huế an bình trong một đất nước an bình, đời sống vật chất và tinh thần có những bước phát triển, khởi sắc, dân cư đông đúc hơn. Tuy thế, vì thành phần dân cư có nhiều thay đổi, có nhiều gốc gác nên có nhiều lựa chọn trong đời sống tinh thần, tâm linh, và vì thế, dầu người theo Phật vẫn đông nhưng sự thể hiện trong xã hội của Phật Giáo không còn đậm nét như trước.

Dẫu hoàn cảnh nào đi nữa thì việc ăn chay truyền thống nói lên một lối ẩm thực lành mạnh và một nét văn hóa đẹp đẽ của đất cố đô, một cách ăn để sống văn minh nhất trong thời đại ngày nay, khi nhân loại thấy nguy cơ sống thô bạo với thiên nhiên, sử dụng kỹ thuật đưa đến ô nhiễm môi trường, gây ra bao nhiêu biến chứng: dịch lở mồm long móng, H5N1, bò điên, kích thích tăng trọng, kích thích cây trồng, nhiểm kháng rầy, dư thừa phân đạm trong rau xanh…

Ngày nay, ăn chay không có nghĩa là ép xác, cực khổ (ăn chay nằm đất!), trái lại, ăn chay vẫn bổ dưỡng, ngon lành mà không cần cầu kỳ; hơn nữa, người nấu có đạo tâm nên đảm bảo tinh khiết – một yêu cầu cao nhất đối với người dùng chay. Những anh chàng dân dã: mít, vả, bắp chuối, măng,… cùng với các cô nàng hạt sen, nấm, mè, đậu, cà,… được vinh danh từ các bữa cơm chay gia đình, các bữa ngọ trai nhà chùa, cho đến các bữa tiệc chay tiếp tân sang trọng.

Thời gian sau này, thức ăn chay (và ăn kiêng) được bổ sung bằng thực phẩm chế biến sẵn, đặc biệt từ Đài Loan, làm thỏa mãn yêu cầu vừa sang trọng vừa tiện dụng, tuy nhiên, theo thiển ý, ăn chay theo lối Huế truyền thống vẫn giàu vị thanh, chất tươi, và “đạt đạo” hơn. Tác giả và đạo diễn tiệc chay truyền thống Huế là ai?

Tôi không chuyên nghiên cứu về vấn đề này, tôi chỉ nhớ (rất thiếu sót) một số vị nữ lưu tài hoa, Huế chay: trước đây là nhà giáo Hoàng Thị Kim Cúc, dạy nữ công gia chánh trường Đồng Khánh, huynh trưởng Gia Đình Phật Tử uy tín; ngày nay là nhà giáo Mai Thị Trà, doanh nhân Hoàng Anh – Phú Xuân…; tất cả đều có công trình biên soạn có giá trị về các món chay.

Cái gì bèo bọt rồi sẽ qua đi, cái gì tinh túy thì ở lại. Huế chay vẫn còn đó, để đi đến đích cao hơn về thân, khẩu, ý: thân thể nhẹ nhàng, lời nói tốt đẹp, trí tuệ minh mẫn.


[1] Khánh Ly, Nỗi buồn nhớ quê hương, bút ký

[2] Nỗi buồn nhớ quê hương, bút ký

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/?vnnid=14704