Showing posts with label Gương Sáng. Show all posts
Showing posts with label Gương Sáng. Show all posts

Tuesday, September 05, 2017

Quán cơm chay miễn phí của “Cô Út từ thiện” (Đồng Tháp)

Lê Thanh

(ĐTO) - “Cô Út” là tên thân thuộc mà mọi người quen gọi đối với bà Nguyễn Thị Hồng Đào ở xã Hòa An, TP. Cao Lãnh. Bà Đào là chủ quán ăn chay phục vụ miễn phí cho những người lao động nghèo, những hoàn cảnh bất hạnh.

Sáng sớm ngày đầu tháng 9, chúng tôi tìm đến quán cơm chay từ thiện nằm trên Quốc lộ 30 thuộc ấp 1, xã Mỹ Tân, TP. Cao Lãnh. Mới hơn 6 giờ sáng nhưng đã có rất nhiều người ngồi chờ để nhận những phần cơm chay miễn phí của cô Út. Theo tìm hiểu của chúng tôi, tất cả họ đều là những lao động, học sinh, sinh viên nghèo... vội vã nhận phần cơm rồi tranh thủ đi làm cho kịp giờ. 

Chị Diễm, quê An Giang cho biết, nhà nghèo, vợ chồng chị qua TP. Cao Lãnh thuê phòng trọ ở và đi bán vé số kiếm tiền. Mỗi ngày, chị đều đến quán cơm của cô Út nhận 2 phần cơm để vợ chồng cùng ăn. “Phần cơm tuy đạm bạc nhưng chất chứa biết bao tấm lòng thiện nguyện của cô Út. Không riêng gì vợ chồng tôi mà với nhiều người lao động nghèo, phần cơm từ thiện này không chỉ giúp chúng tôi no lòng mà còn có thêm động lực làm kiếm tiền” - chị Diễm chia sẻ.


Tranh thủ lúc rảnh tay sau gần 1 giờ phục vụ cơm miễn phí cho người nghèo, cô Út mới có thể ngồi xuống trò chuyện cùng chúng tôi. Cô Út cho biết, quán cơm của cô bắt đầu hoạt động vào đầu năm 2016. Mỗi ngày, từ 6 giờ đến 12 giờ, quán phục vụ khoảng 50 suất cơm chay. Khi biết cô có tâm nguyện giúp đỡ người nghèo nên mạnh thường quân ở xã Phong Mỹ (huyện Cao Lãnh) và TP. HCM hỗ trợ gỗ, tôn để cô cất được cái quán ăn. 

Cô Út chia sẻ: “Hoàn cảnh gia đình tôi cũng không khá giả gì, nhưng nhờ có con hỗ trợ tiền chi tiêu mỗi tháng. Tuổi già, cũng chẳng làm việc gì lớn lao được, do đó tôi muốn giúp những người nghèo khó trong tầm sức khỏe của mình”. Theo lời kể của cô Út, cô có 2 người con trai. Đứa lớn đã có gia đình, công việc ổn định, cuộc sống khá giả nên thường xuyên gửi tiền để cô an hưởng tuổi già. Người con út đang ở cùng cô thì mắc bệnh động kinh nhưng cũng rất hiếu thảo và phụ giúp cô nấu nướng.

Là “khách hàng” gắn bó với quán cơm hơn 1 năm nay, chú Tâm (62 tuổi, làm nghề bán vé số) xúc động: “Với những người lao động nghèo như chúng tôi, hôm nào không bán được thì việc lót dạ tạm thứ gì đó hay nhịn luôn cho qua bữa đã là chuyện thường. Từ khi có quán cơm miễn phí của chị Út thì không còn phải nhịn ăn qua bữa nữa. Tôi thật sự cảm phục trước tấm lòng của chị Út, đã quan tâm giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như chúng tôi”.

Mỗi ngày, để kịp giờ phục vụ cho người nghèo, cô Út phải thức dậy từ 3 giờ sáng nấu cơm, chuẩn bị đồ ăn. Các món ăn cô Út thường nấu cũng đa dạng, từ 4 - 5 món chay gồm: canh, chiên, kho, dưa chua, xào để khách dễ dàng lựa chọn. “Mỗi ngày, tôi nấu 5kg gạo để phục vụ cho dân nghèo. Dù là quán ăn miễn phí nhưng mình cũng phải nấu ăn cho đàng hoàng, khách ăn được ngon miệng thì họ mới ghé tiếp” - cô Út vui vẻ cho biết.

Thấy được việc làm ý nghĩa của cô Út, nhiều mạnh thường quân hay người quen biết thường xuyên mua gạo, rau, củ đến quyên góp để cô có thêm nguyên liệu, cùng góp chung “nồi cơm” giúp đỡ bà con nghèo. Những người hàng xóm, dù không giúp đỡ vật chất nhưng sẵn sàng góp chút công sức, giúp cô lặt rau, rửa chén. Nhờ vậy, ngày qua ngày, hàng trăm suất cơm chay miễn phí được cô Út tận tay trao cho những hoàn cảnh khó khăn, giúp họ thêm ấm lòng. 

Cô Nguyễn Thị Út (SN 1963) - hàng xóm của cô Út chia sẻ: “Chị Út lớn tuổi rồi mà còn nghĩ đến điều thiện khiến tôi cảm thấy nể phục. Thấy chị đơn chiếc một mình thức khuya nấu ăn nên những ngày rảnh, tôi tranh thủ sang giúp chị. Mình giúp được chị, cũng như giúp được nhiều người, tích thêm nhiều phúc đức cho con cháu sau này vậy”.

Năm nay đã 61 tuổi, nhưng cô Út vẫn miệt mài nấu từng bữa cơm mong muốn giúp người nghèo khó có bữa ăn ấm lòng. Tấm lòng cao quý của cô Út thật đáng để biểu dương và học tập. Tạm biệt cô Út nhưng chúng tôi vẫn nhớ như in lời cô tâm sự: “Cô chỉ mong sao mình có sức khỏe để tiếp tục duy trì hoạt động của quán ăn miễn phí này càng lâu càng tốt. Bấy nhiêu thôi đã là hạnh phúc với cô lắm rồi!”.

Sunday, November 06, 2011

Gương Sáng: Trang Tử và Nam Hoa Kinh - Chuang Tzu (Tường Khai)

Chuang Tzu is considered one of the greatest philosophers of our world. Some records indicated that Master Chuang was born in China around 369 BEC and passed away in 286 BCE. 
He said: "The wise person looks into space and does not regard the small as too little, nor the great as too big, for he knows that there is no limit to dimensions."

Trang Tử và Nam Hoa Kinh
Tường Khai

Trong văn học Trung Quốc từ xưa đã xuất hiện hai nhân vật kỳ bí, hai triết gia đặc biệt: đó là Lão Tử và Trang Tử. Người xưa không ai biết hai Ngài là học trò của ai, và hành đạo ra sao. Đến khi nhị vị tách mình ra đi về cõi vĩnh hằng, để lại cho đời tác phẩm của mình thì đời sau mới biết tông chỉ và chủ trương của hai Ngài.

Đức Lão Tử để lại cho đời quyển Đạo Đức Kinh theo lời thỉnh cầu của ông Doãn Hỉ, vị quan coi cửa ải Hàm Cốc…. Với quyển Đạo Đức Kinh, Đức Lão Tử đã khai sinh một học thuyết mới: ĐẠO và một cái nhìn mới về vũ trụ quan. Người đời sau tôn xưng Ngài là Đạo Tổ. "Đạo Đức Kinh" là cuốn sách khó hiểu: không ai hiểu hết lời dạy của Ngài. Đến nay, sau trên 2000 năm, cuốn Đạo Đức Kinh vẫn còn đầy đủ giá trị thực tiễn cho người tu hành chân chính tìm hiểu và thực hành chân lý.

Nếu với đạo Nho, Mạnh Tử, một người học trò không trực tiếp tiếp thu lời dạy của đức Khổng Tử, không sinh cùng thời với Đức Khổng Tử (sanh sau khoảng 100 năm) mà lại hấp thụ trọn vẹn tư tưởng của Đức Khổng Tử và lại có công phát huy nền Khổng học, được người đời sau xưng tụng là bậc Á Thánh, thì với Lão giáo, ông Trang Tử sinh sau Đức Lão Tử mấy chục năm, không tiếp xúc với Đức Lão Tử mà cũng đã tiếp thu trọn vẹn tư tưởng của Đức Lão Tử và làm cho Đạo giáo khởi sắc thêm lên: chỉ xuyên qua một cuốn Nam Hoa Kinh !

Trang Tử tên thật là Trang Châu (Trang Chu). Ông sinh vào khoảng những năm giữa của thế kỷ thứ IV trước Tây lịch và mất vào những năm đầu của thế kỷ thứ III trước Tây lịch (ngày sinh và ngày mất của Trang Tử: có nhiều ý kiến rất khác nhau). Điều chắc chắn là Trang Tử sống cùng thời với Mạnh Tử và Huệ Thi đời Lương Huệ Vương và Tề Tuyên Vương. Ông sống vào thời kỳ đảo lộn dữ dội trong lịch sử cổ đại Trung Quốc, giai đoạn Chiến Quốc (403-221 trước Tây Lịch).

Trang Tử là người xứ Mông, gốc nước Tống, là một nước nhỏ ở giữa hai tỉnh Sơn Đông và Hà Nam Trung Quốc hiện nay. Ông đã từng làm chức quan "Tất Viên" (coi vườn sơn [là cây có nhựa để làm sơn]) ở xứ Mông, và sau đó sống ẩn dật cho đến cuối đời. Đã từng làm quan và là người nổi danh tài trí nên chắc chắn Trang Tử xuất thân từ từng lớp quí tộc đã sa sút, bị mất chỗ đứng trong xã hội. Địa vị và giai cấp của Trang Tử đã thể hiện rõ trong thuyết tương đối và chủ nghĩa vô vi của ông.

Trang Tử sống thanh bạch, giản dị, ghét thói hám danh cầu lợi. Gia đình, vợ con ông sống nghèo khổ, túng quẩn nhưng rất có nhân cách và bản lĩnh…Ta có thể nói cuộc đời của Trang Tử đã thể hiện một cách nhất quán quan điểm tư tưởng của ông: đó là thái độ ung dung, thản nhiên đến lạnh lùng trước mọi sự kiện quan trọng diễn ra trong đời (cảnh vợ chết, Trang Tử ca! Thương Chí Lạc – Ngoại thiên).
Ngay cả khi gần chết, các đệ tử muốn hậu táng thì Trang Tử nói: "Ta có trời đất làm quan quách, nhật nguyệt làm ngọc bích, tinh tú làm châu ngọc, vạn vật làm lễ tống. Đám tang ta như thế chưa đủ sao? Còn thêm vô chi nữa?"

Tác phẩm duy nhất của Trang Tử là bộ Nam Hoa Kinh. Nam Hoa Kinh hiện nay được lưu truyền 33 chương và được chia ra như sau:

Nội thiên: 7 chương
Ngoại thiên: 15 chương
Tạp thiên: 11 chương

Theo các học giả, cuốn Nam Hoa Kinh 33 chương không phải do Trang Tử viết hoàn toàn. Căn cứ theo nhân cách, văn phong và tư tưởng của ông thì chỉ có phần Nội thiên là của Trang Tử, còn phần Ngoại thiên và Tạp thiên có chỗ do ông viết, nhưng phần lớn là do người đời sau viết thêm thắt vào.

Trang Tử có một địa vị rất lớn trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc. Nhờ ông một phần lớn mà tư tưởng học thuyết của Lão Tử mới được phổ biến mạnh. Giới trí thức (học Hán Văn) quí những câu "cách ngôn" trong Đạo Đức Kinh, còn giới bình dân (trong xã hội Trung Quốc và các nước Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc) thì ai cũng biết ít nhiều về ngụ ngôn của Trang Tử. Tên ông gắn liền với tên Lão Tử và hai vị đều có công làm cho dân tộc Trung Quốc bớt thực tiễn, yêu thiên nhiên, tự do hơn, khoan dung hơn, khoáng đạt hơn.

Trang Tử là người có công mài giũa viên ngọc "ĐẠO" của Lão Tử để thể hiện đầy đủ vẻ lấp lánh sáng ngời của nó. Do đó người đời sau gọi chung là tư tưởng Lão Trang.

http://www.nhipcaugiaoly.com/post?id=134

Thursday, September 22, 2011

Gương Sáng: Leonardo da Vinci, khoa học gia, nghệ sĩ, người trường chay

Leonardo da Vinci (1452-1519)
Leonardo da Vinci - painter of the famed "Mona Lisa," father of modern science, and inventor of the scissors - was a vegetarian.

Bạn có biết, người phát minh ra chiếc kéo là danh tài Leonardo da Vinci? Ông được xem là một trong những nhà tư tưởng lớn nhất của nhân loại, kiến thức của ông đi trước thời đại của ông rất xa. Ông sống độc thân và là người trường chay.

Kính mời bạn đọc trích đoạn bài viết của Trung Đức trên báo Đất Việt, đăng ngày 22 tháng 9, 2011.

Trích đoạn: "Bí mật ít biết về Leonardo da Vinci"
Trung Đức

Họa sĩ vĩ đại, nhà bác học, kỹ sư và nhà giải phẫu, một trong những đại diện xuất sắc nhất của nghệ thuật và khoa học thời Phục hưng, Leonardo da Vinci sinh năm 1452 tại làng Anchiano, gần thành phố Vinci, Italia.

Ngoài những bức tranh và tác phẩm điêu khắc lừng danh khắp thế giới, thiên tài Leonardo còn để lại những bản thảo viết tay về nhiều lĩnh vực kiến thức.

Ông nghiên cứu toán học, cơ học chất lỏng, địa chất và địa lý tự nhiên, khí tượng, hóa học, thiên văn, thực vật học, giải phẫu và sinh lý người và động vật.

Mặc dù một số tuyệt tác của Leonardo như La Gioconda thì ai cũng biết, nhưng vẫn còn một số sự kiện ít được biết về cuộc đời và sáng tạo của ông.

  • Chẳng hạn, mẹ của Leonardo là một nông dân bình thường, ông tiếp thụ học vấn tại nhà, chơi đàn lia điêu luyện, là người đầu tiên giải thích vì sao bầu trời có màu xanh, còn mặt trăng lại sáng thế, là người thuận hai tay và bị chứng đọc khó.
  • Leonardo sinh ra trong gia đình vị chưởng khế và điền chủ giàu có Piero da Vinci, mẹ ông là nông dân có tên Caterina. Ông được hưởng sự giáo dục tốt tại nhà, nhưng ông không được học một cách bài bản tiếng Hy Lạp và tiếng Latin. 
  • Ông chơi điêu luyện đàn lia. Khi tòa án Milan xét xử vụ án của Leonardo, ông ra tòa với tư cách một nhạc công, chứ không phải như một họa sĩ hay nhà phát minh.
  • Leonardo Da Vinci đã mất khoảng 10 năm để vẽ đôi môi nàng Mona Lisa.

  • Leonardo yêu thích nước: ông đã soạn các bản hướng dẫn về lặn dưới nước, sáng chế ra và mô tả thiết bị lặn, máy thở để bơi ngầm dưới nước. Tất cả những phát minh của Leonardo là cơ sở của trang bị lặn hiện đại.
  • Leonardo là người đầu tiên giải thích tại sao bầu trời có màu xanh. Trong cuốn sách "Về hội họa", ông viết: "Màu xanh của bầu trời sinh ra là nhờ có một tầng dày các hạt không khí được chiếu sáng ở giữa trái đất và màu đen ở bên trên".
  • Những quan sát đối với mặt trăng ở kỳ thượng tuần đã dẫn Leonardo tới một trong những khám phá khoa học quan trọng nhất - ông xác định được rằng, ánh sáng mặt trời phản xạ từ trái đất và trở về mặt trăng dưới dạng chiếu xạ thứ cấp.
  • Leonardo đã để lại các bản thiết kế tàu ngầm, cánh quạt gió, xe tăng, pháo, súng máy, các máy bay máy dệt, vòng bi, hệ thống kênh tưới đồng ruộng và phát minh ra dù…
  • Tháng 12/2000, vận động viên nhảy dù người Anh Adrian Nicolas ở Nam Phi đã nhảy từ một khí cầu ở độ cao 3000 m bằng một chiếc dù làm theo bản vẽ phác thảo của Leonardo da Vinci.
  • Leonardo là người thuận cả hai tay, sử dụng tay trái và tay phải với sự khéo léo như nhau. Thậm chí người ra nói rằng, ông có thể viết đồng thời các văn bản khác nhau bằng hai tay khác nhau. Ông mắc chứng đọc khó - căn bệnh này, vốn được gọi là “mù lời nói”, được cho là có liên hệ với sự suy giảm hoạt động của não ở một vùng nào đó của bán cầu trái. Như ta đã biết, Leonardo viết, vẽ kiểu gương. Đa số các công trình trong các cuốn sổ ghi chép nổi tiếng của mình, ông viết bằng tay trái, từ phải sang trái theo kiểu viết chữ ngược. Nhiều người cho rằng, ông làm thế để giữ bí mật các nghiên cứu của mình. Còn theo một giả thiết khác thì lối viết ngược (mirror writing) là đặc điểm cá nhân của ông, thậm chí có ý kiến cho rằng, ông viết như thế dễ hơn là viết theo lối thông thường. Thậm chí còn tồn tại khái niệm “lối viết của Leonardo”.
  • Ông là người cầu toàn khi bỏ dở nhiều bức tranh và phá hủy phần lớn các tác phẩm của mình.
  • Leonardo là người ăn chay vì lý do nhân đạo. Ông thích mua lại những con chim bị nhốt để thả chúng ra. Ông từng nói: “Nếu như con người muốn vươn tới tự do thì tại sao anh ta lại giam giữ chim thú trong lồng?.. con người mới thực sự là chúa tể của muông thú vì con người đang giết hại chúng dã man. Chúng ta sống bằng cách giết hại những kẻ khác. Chúng ta là những nghĩa địa biết đi! Ngay từ khi còn trẻ, tôi đã từ bỏ thịt”.
  • Tỷ phú Bill Gates năm 1994 đã bỏ ra 30 triệu USD mua tập bản thảo Codex Leicester - một tuyển tập công trình của Leonardo da Vinci. Từ năm 2003, nó được trưng bày tại Viện bảo tàng Nghệ thuật Seatle.
  • Năm 2005, Viện bảo tàng Louvre đã bỏ ra 5,5 triệu USD để chuyển tuyệt phẩm trứ danh Gioconda treo ở gian chung sang một gian phòng trang bị đặc biệt dành riêng. Người ta đã dành cho bức tranh 2/3 gian Nhà nước (Salle des États) có tổng diện tích 840 m2. Gian phòng rộng mênh mông được cải tạo thành phòng trưng bày, trên bức tượng ở phía xa treo tuyệt tác của Leonardo. Căn phòng được cải tạo theo đồ án của kiến trúc sư Peru có tên Lorenzo Pikeras trong gần 4 năm. Viện bảo tàng Louvre quyết định chuyển Mona Lisa vào gian riêng là bởi khi ở vị trí cũ, kiệt tác này bị mờ nhạt giữa những họa phẩm của các họa sĩ Italia khác, còn công chúng thì phải chen chúc xếp hàng để được chiêm ngưỡng bức tranh nổi tiếng.
  • Tháng 8.2003, kiệt tác “Đức Mẹ với chiếc cọc sợi" của Leonardo da Vinci, trị giá 50 triệu USD, bị đánh cắp khỏi lâu đài Drumlanrig của một trong những điền chủ giàu nhất Scotland, công tước Buccleuch. Vụ trộm cắp bức tranh này nằm trong danh sách 10 tội ác nổi tiếng nhất trong lĩnh vực nghệ thuật mà Cục Điều tra Liên bang Mỹ FBI công bố vào tháng 11/2005. Tháng 10.2007, cảnh sát đã thu hồi được bức danh họa. Sau đó, bức tranh được cho Viện bảo tàng nghệ thuật Quốc gia Scotland mượn và trưng bày.
  • Leonardo là họa sĩ đầu tiên xẻ các tử thi để tìm hiểu sự sắp xếp và kết cấu của các cơ. Leonardo ban đêm hay chui vào các nghĩa trang, lấy xác chết để nghiên cứu giải phẫu học cơ thể người.
  • Da Vinci cứ 4 giờ thì ngủ 15 phút, tức là ngủ 90 phút một ngày, thay vì 7-9 giờ như bình thường.
  • Trong số các đam mê của Leonardo có cả nấu ăn và nghệ thuật bày tiệc. Ở Milan, trong 13 năm, ông là người chủ trì các buổi yến tiệc cung đình. Ông đã phát minh một số cách thức nấu nướng để làm nhẹ công việc của các đầu bếp.
  • Khi xây dựng các con kênh, Leonardo da Vinci đã tiến hành một quan sát mà sau đó đã đi vào ngành địa chất dưới tên ông với tư cách một nguyên lý lý thuyết xác định thời gian kiến tạo các tầng đất. Ông đã đi đến kết luận rằng, trái đất già hơn nhiều so với quan điểm được nêu trong Kinh Thánh.
 http://baodatviet.vn/Home/KHCN/khlandaucongbo/Bi-mat-it-biet-ve-Leonardo-da-vinci/20119/168899.datviet

Tuesday, February 22, 2011

Gương Sáng: Nhà văn Lev Tolstoi, tiểu thuyết gia Nga & người trường chay

 Nhà văn Leo Tolstoy trong thư phòng 
(Tranh sơn dầu Ilya Repin, 1891)
(Viện Bảo tàng Văn chương Quốc gia, Mạc Tư Khoa, Nga)

Leo Tostoy, one of Russia's - and the world's - greatest writers (War and Peace, Anna Karenina, Sevastapol Sketches, The Cossacks...) was a vegetarian and peace advocate.

Nguồn: Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng / Báo Nông Nghiệp Việt Nam
Ngày 22 tháng 2, 2011

Hỏi:
Tại sao người ta nói Lev Tolstoi Nikolayevich là một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong mọi thời đại? Xin cho biết sơ qua tiểu sử và các tác phẩm để đời của ông. (Bùi Thành Công, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ)

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Tolstoi (Lev Nikolaevič Tolstoj) sinh ngày 9/9/1828 và mất ngày 20/11/1010. Ông là một tiểu thuyết gia người Nga, nhà triết học, người theo chủ nghĩa hòa bình, nhà cải cách giáo dục, người ăn chay, người theo chủ nghĩa vô chính phủ, tín đồ Cơ Đốc, nhà tư tưởng đạo đức, và là một thành viên có ảnh hưởng của gia đình Tolstoi.

Tolstoi được yêu mến ở khắp mọi nơi như một tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong tất cả các nhà viết tiểu thuyết, đặc biệt nổi tiếng với kiệt tác “Chiến tranh và hòa bình” và “Anna Karenina”; miêu tả sự phóng khoáng và hiện thực của cuộc sống Nga, hai tác phẩm là đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực. Tuổi thơ và thời niên thiếu của Tolstoi là sự xê dịch giữa Moskva và Yasnaya Polyana, trong một đại gia đình với ba người anh trai và một chị gái. Mẹ ông qua đời khi ông mới lên hai, và cha ông cũng mất khi ông mới lên chín.

Sự giáo dục sau đó của ông được giao vào tay người cô họ, Madame Ergolsky, người được cho là hình mẫu của Sonya trong tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” (cha ông và mẹ ông cũng là hình mẫu của các nhân vật Nicholas Rostov và Công chúa Marya trong tiểu thuyết đó). Năm 1844, Tolstoi bắt đầu học luật và các ngôn ngữ phương Đông tại Đại học Kazan. Năm 1849 ông về cư trú tại Yasnaya Polyana, nơi ông cố gắng trở nên hữu ích cho những người nông dân của mình nhưng nhanh chóng khám phá ra sự vô dụng của lòng nhiệt tình thiếu hiểu biết của mình.

Từ rất sớm, trong nhật ký của ông cho thấy một sự đau khổ không bao giờ thỏa mãn về giá trị đạo đức của cuộc sống, một sự đau khổ sẽ còn mãi và là xung lực mang tính quyết định trong trí óc ông. Thử nghiệm văn chương đầu tiên của Tolstoi là tác phẩm dịch cuốn “Một chuyến đi đầy xúc cảm qua Pháp và Ý”. Tới năm 1851 một trong những nỗ lực tham vọng hơn và rõ rệt hơn về một phong cách sáng tác mới là truyện ngắn đầu tay của ông, "Một lịch sử của ngày hôm qua".

Cùng năm ấy, buồn chán về cuộc sống dường như trống rỗng và vô nghĩa tại Moskva, khiến ông mang nợ vì cờ bạc, ông tới Caucasus, và gia nhập một đơn vị pháo binh đồn trú tại khu vực Cossack của Chechnya, với tư cách một binh nhì tình nguyện, nhưng mang dòng dõi quý tộc. Năm 1852 ông hoàn thành tiểu thuyết đầu tiên “Thời thơ ấu.” Dù Tolstoi khó chịu với những cắt xén của nhà xuất bản, quyển sách ngay lập tức thành công khiến Tolstoi có được một vị trí xác định trên văn đàn Nga.

Tại khẩu đội pháo của mình Tolstoi sống một cuộc đời dễ chịu và không phiền phức nhờ tư cách một sĩ quan quý tộc. Tại Sevastopol ông viết cuốn “Những mẩu chuyện Sevastopol,” được nhiều người coi là cố gắng đầu tiên của ông nhằm có được những kỹ thuật sẽ được áp dụng hiệu quả sau này trong tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình.” Năm sau ông rời quân ngũ, hoàn toàn ghê tởm với sự chém giết vô nghĩa đã chứng kiến.

Những năm 1856- 1861 ông sống tại Petersburg, Moskva, Yasnaya, và ở nước ngoài. Năm 1857 (và một lần nữa trong giai đoạn 1860-1861) ông đi ra nước ngoài và quay trở về với sự vỡ mộng về tính ích kỷ và chủ nghĩa vật chất của nền văn minh tư sản Châu Âu, một cảm giác được thể hiện trong truyện ngắn “Lucerne” và gián tiếp hơn trong tác phẩm “Ba cái chết của ông.” Khi bắt đầu có quan điểm thiên về phương Đông hơn với ảnh hưởng từ Phật giáo, Tolstoi học cách tự nhận thức mình thông qua những sinh thể sống.

Ông bắt đầu viết “Kholstomer,” với một đoạn độc thoại nội tâm của một chú ngựa. Nhiều suy nghĩ riêng tư của ông đã được phản ánh thông qua một nhân vật chính trong tác phẩm “Người Cô dắc”...


http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/122/21/21/71881/Default.aspx

Saturday, January 22, 2011

Gương Sáng: Đức Vua Trần Nhân Tông, Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm

Enlightened King Trần Nhân Tông (1258-1308), the third emperor of the Trần dynasty in Việt Nam, was a wise leader, having brought long-time peace and prosperity to his nation. He was also the founder of the renowned Trúc Lâm Zen tradition. Trúc Lâm First Patriarch was as well an esteemed poet, nature lover, and a vegetarian. Việt Nam, in fact, has been blessed with shining and noble role models who lived the compassionate and gentle vegetarian way.

Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I
Tác giả: Nguyễn Lang

Trích Chương 12: Trần Nhân Tông và Thiền Phái Trúc Lâm

Năm 1299, vua Nhân Tông xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Ðầu Ðà (sau này vua đổi hiệu là Trúc Lâm Ðầu Ðà). Vua được nhận là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử, thế hệ thứ sáu, tiếp nối vị tổ thứ năm là thiền sư Huệ Tuệ. Từ đó trở đi, phái Yên Tử trở thành nổi tiếng, thế lực lan rộng trong triều đình và giữa nhân gian. Một ông vua đã từng đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Nguyên, một ông vua đã đem hòa bình và thịnh trị về cho dân, một ông vua như thế khi đi xuất gia chắc chắn đã gây nên một tiếng vang lớn và khiến tất cả mọi người trong nước hướng nhìn về ngọn núi Yên Tử. Đạo Phật trở thành yếu tố tâm lý liên kết toàn dân lại trong mục đích xây dựng và bảo vệ quốc gia. Nhân Tông và Anh Tông là những nhà chính trị giỏi, nhưng đồng thời cũng là những Phật tử thật sự...

Một thời gian sau ngày xuất gia, vua Nhân Tông đổi pháp hiệu là Trúc Lâm. Ta biết rằng vị tổ thứ hai của thiền phái Yên Tử, thiền sư Ðạo Viên (hay Viên Chứng) ngày xưa đã được ban hiệu là Trúc Lâm quốc sư. Nhân Tông đã xuất gia và đã trở nên một vị cao tăng, tổ thứ sáu của phái Yên Tử và là tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm: ta gọi vua bằng pháp hiệu Trúc Lâm của vua, trong khi không quên rằng Trúc Lâm quốc sư Ðạo Viên là vị tiền bối của vua.

Trúc Lâm Ðầu Ðà tên tục là Trần Khâm, con của vua Trần Thánh Tông, sinh năm 1258, lê ngôi vua năm 20 tuổi, xuất gia năm 41 tuổi và tịch năm 1308 vào lúc 51 tuổi. Tác giả Sách Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư viết: "Vua được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên Ðồng Tử; ở vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn; ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng hà ở am Ngọa Vân núi Yên Tử. Hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng làm vẻ vang đời trước, thực là vua hiền đời Trần. Song vui lòng ở kinh Phật, tuy bảo là đến siêu thoát, nhưng không phải là đạo trung dung của thánh nhân". Sử thần Ngô Sĩ Liên còn nói: "Nhân Tông trên thờ Từ Cung tỏ rõ đạo hiếu, dười dùng người hiền lập nên võ công, nếu không phải là bậc nhân minh anh vũ thì làm sao được như thế? Duy có việc xuất gia là không hợp với đạo trung dung". Ðó là những lời phê bình về vua Nhân Tông của các sử thần theo Nho Giáo.

Hồi còn nhỏ tuổi, Trúc Lâm đã có ý không muốn làm vua. Và muốn nhường địa vị đông cung thái tử cho em. Sách Tam Tổ Thực Lục nói: "Một đêm vào giờ Tý, vua vượt thành mà đi, muốn vào núi Yên Tử, đến chùa ở núi Ðông Cứu thì trời sáng, liền vào ẩn trong tháp. Vị tăng trụ trì thấy tướng mạo dị thường liền đem thức ăn khoản đãi. Hôm ấy thái hậu và vua Thánh Tông sai quần thần tìm tứ tán, bất đắc dĩ vua phải về.

Khi lên ngôi, tuy ngồi lên chín bệ vinh quang nhưng sinh hoạt rất thanh tịnh. Một hôm ngủ trưa tại chùa Tư Phúc trong đại nội vua mộng thấy trên rốn mình nở ra một hoa sen lớn như bánh xe, trên đó có một đức Phật vàng. Bên cạnh, có người chỉ vào vua mà hỏi: "Biết đức Phật này không? Ðó là đức Biến Chiếu Tôn đấy!" Vua tỉnh thức, đem giấc mộng nói lại cho Thánh Tông nghe, ai cũng lấy làm lạ. Từ đó thường ăn chay tránh thịt cá, long nhan gầy mòn. Thánh Tông thấy thế làm lạ, hỏi. Ðiều Ngự (tức Nhân Tông) cứ thực trình bày. Thánh Tông khóc nói: Ta đã già, cậy vào một mình ngươi, nếu người như thế làm sao nối được thịnh nghiệp của tổ tông? Ðiều Ngự cũng khóc. Ðiều Ngự thánh tính thông minh, hiếu học, nhiều tài, đọc khắp các loại sách thông suốt cả đến nội điển, thường mời các vị thiền khách tới cùng giảng cứu Thiền học. Ðiều Ngự cũng tìm tới tham khảo với Tuệ Trung thượng sĩ, và do đó thâm nhập được cốt tủy của Thiền học, cho nên thường lấy tư cách đệ tử để đối đãi với Tuệ Trung.

Ðã đành Trúc Lâm thờ Tuệ Trung làm thầy, nhưng khi xuất gia thọ 250 giới của một vị tỳ khưu vì Tuệ Trung vốn là cư sĩ, không thể truyền giới cho vua được. Ai là hòa thượng trao truyền giới pháp cho Trúc Lâm, và vua thọ giới ở đâu? Hẳn người làm hòa thượng đường đầu truyền giới là thiền sư Huệ Tuệ, lúc ấy đang lãnh đạo sơn môn Yên Tử, tổ sư thứ 5 của thiền phái. Và lễ thọ giới xuất gia của Trúc Lâm chắc chắn được tổ chức trên núi Yên Tử.

Trúc Lâm tuy học với Tuệ Trung nhưng khác với Tuệ Trung ở chỗ vua rất chú trọng về mặt hình tướng của sự việc. Trúc Lâm xứng đáng là vị sáng tổ của một tông phái, người lãnh đạo của một giáo hội. Vua có ý định xuất gia rất sớm, nhưng ý định này chỉ được thực hiện vào năm 1299.

Trước đó vua đã ăn chay học Phật một cách kính cẩn. Năm gần đi xuất gia, vua mời Văn Túc Vương Ðạo Tái (con của Trần Quang Khải) đến chơi ăn cơm. Vốn rất yêu mến Văn Túc Vương Ðạo Tái, vua mời Ðạo Tái vào chơi ở Dưỡng Ðức điện trong cung Thánh Từ và sai người làm các thức hải vị mời Ðạo Tái. Vua vốn đã ăn chay rồi, nên chỉ ngồi nhìn Ðạo Tái ăn. Vua có làm bài thơ như sau:

Món quy cước đỏ thắm
Món mã yên vàng thơm
Sơn tăng giữ tịnh giới
Cùng ngồi không cùng ăn


Chưa đi xuất gia nhưng tự xem mình như một vị "sơn tăng" rồi, thì biết vua đã chuẩn bị kỹ lưỡng biết bao cho việc xuất gia của mình! Tháng Bảy năm 1299, vua xây một thiền am trên núi Yên Tử gọi là Ngự Dược Am. Xây dựng chỉ sơ sài thôi, bởi vì sang tháng Tám vua đã đi xuất gia...

Saturday, January 15, 2011

Gương Sáng: Gioan Người Làm Vườn (John the Gardener)

Gioan, người làm vườn, Tôi tớ Chúa (qua đời năm 1501) - please scroll down for English
Nguồn: VietCatholic News / Trâm Thiên Thu (Chuyển ngữ từ AmericanCatholic.org)
Ngày 13 tháng 1, 2011

Gioan sinh trưởng trong một gia đình nghèo ở Bồ Đào Nha. Mồ côi sớm, ngài phải đi ăn xin một số năm. Sau khi có việc làm ở Tây Ban Nha là chăn chiên, ngài chia sẻ phần thu nhập ít ỏi của mình với những người nghèo khổ hơn mình.

Một hôm, hai tu sĩ dòng Phan sinh gặp Gioan trên đường đi. Khi nói chuyện, hai tu sĩ này thấy quý mến một con người đơn giản và mời Gioan đến làm việc tại tu viện của họ ở Salamanca. Gioan chấp nhận và được phân công làm vườn. Một thời gian sau, Gioan đã nhập dòng Phan sinh và sống cuộc đời chiêm niệm, ăn chay, dành thời gian ban đêm để cầu nguyện, và giúp đỡ người nghèo. Vì công việc của ngài là làm vườn và chăm sóc hoa để cắm trên bàn thờ, ngài nổi tiếng với danh xưng “người làm vườn”.

Thiên Chúa ban cho Gioan tài nói tiên tri và biết rõ tâm hồn người khác. Các nhân vật quan trọng, kể cả các hoàng tử, cũng đến với ngài để xin lời khuyên. Ngài là người khiêm nhường và tuyệt đối vâng lời. Ngài yêu thương cả những người muốn chống đối ngài. Lời khuyên của ngài là tha thứ vì đó là hành động đẹp lòng Chúa nhất. 


Ngài đã tiên báo đúng ngày ngài qua đời: 11/1/1501.

http://www.vietcatholic.net/News/Html/86984.htm


Servant of God John the Gardener
(d. 1501)

John was born of poor parents in Portugal. Orphaned early in life, he spent some years begging from door to door. After finding work in Spain as a shepherd, he shared the little he earned with those even more needy than himself.

One day two Franciscans encountered him on a journey. Engaging him in conversation, they took a liking to the simple man and invited him to come and work at their friary in Salamanca. He readily accepted and was assigned to the task of assisting the brother with gardening duties. A short time later John himself entered the Franciscan Order and lived a life of prayer and meditation, fasting constantly, spending the nights in prayer, still helping the poor. Because of his work in the garden and the flowers he produced for the altar, he became known as "the gardener."

God favored John with the gift of prophecy and the ability to read hearts. Important persons, including princes, came to the humble, ever-obedient friar for advice. He was so loving towards all that he never wanted to take offense at anything. His advice was that to forgive offenses is an act of penance most pleasing to God.

He predicted the day of his own death: January 11, 1501.

http://www.americancatholic.org/Features/Saints/Saint.aspx?id=1260