Friday, January 15, 2010

Môi Trường Quanh Ta: Biến Đổi Khí Hậu & Hà Nội

 
Những thiên tai có thể xảy ra trong thế kỷ này tại Việt Nam do biến đổi khí hậu: 
lũ lụt, bão tố, hạn hán, đất lở, bờ biển xói mòn. 
Nếu ăn chay, ta có thể ngăn chận những vấn nạn này.

Mỗi ngày ta càng nghe nhắc nhiều hơn về biến đổi khí hậu và thiên tai. Gần đây, trận động đất 7,0 tại thủ đô của Haiti khiến hàng trăm ngàn người lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Khi biến đổi khí hậu ảnh hưởng một nơi, những nơi khác đều bị tác động, bởi tất cả chúng ta đều liên quan với nhau trong một môi trường chung sống.

Khí hậu biến đổi là do Địa Cầu đang tăng nhiệt độ, ta gọi đó là hâm nóng toàn cầu hoặc nóng ấm toàn cầu. Và lý do chính của hâm nóng toàn cầu, theo các khoa học gia và chuyên gia, là do kỹ nghệ chăn nuôi gia súc lấy thịt (phát ra 51% khí thải). Khi ngưng ăn thịt, ngưng kỹ nghệ chăn nuôi, chúng ta sẽ làm dịu mát lại Địa Cầu và từ đó biến đổi khí hậu cũng giảm thiểu. Việc ngưng ăn thịt, chúng ta cần làm nhanh, nếu muốn còn đất sống!

Nhà văn Pháp Marcel Proust (1871-1922) viết. "Chúng ta cho rằng không sao tiên đoán được giờ chết, nhưng khi nói điều này, ta mường tượng rằng giờ khắc đó nằm trong một tương lai nào xa xôi diệu vợi. Ta không hề nghĩ rằng khoảnh khắc đó có bất cứ liên hệ gì với ngày hôm nay vốn đã bắt đầu, hoặc không nghĩ rằng cái chết có thể đến ngay buổi trưa hôm nay, một buổi trưa chắc chắn sẽ xảy ra và từng giờ đã được định sẵn.”  

Mời bạn đọc bản tin ngày 14/01/2010 đăng trên "Hà Nội Mới," bài viết của Đức Trường.

Hà Nội sẽ chịu sức ép di dân tự do

Nước biển dâng, biến đổi khí hậu (BĐKH) đang tác động lên toàn cầu và trở thành vấn đề được toàn nhân loại tìm cách giải quyết. Thế giới đang chứng kiến những hiện tượng thời tiết bất thường. Nếu như các nước ở vĩ độ cao của bán cầu bắc đang phải chịu đựng một mùa đông giá lạnh, kéo dài chưa từng có thì tại Ôxtrâylia [Úc Đại Lợi] nằm ở bán cầu nam đang trải qua một mùa hè khô, nóng nhất trong lịch sử.

Khi nước biển dâng lên

Tại nước ta, năm 2009 đi qua với những diễn biến bất thường của thời tiết. Có tới 11 cơn bão, nhiều hơn so với mức trung bình nhiều năm. Mưa và lũ sau bão cũng trở lên dữ dội và gây hậu quả nặng nề hơn. Sông Hồng cũng vừa trải qua một mùa cạn kiệt kỷ lục. Cuối tháng 12-2009, có ngày mực nước sông Hồng chỉ còn 0,66m, kỷ lục mực nước sông Hồng thấp nhất tại Hà Nội trong 117 năm qua. Tàu bè nằm phơi trên dòng sông cạn trơ đáy.

Năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) đã công bố kịch bản BĐKH và nước biển dâng. GS Trần Thục, Viện trưởng Viện Khoa học khí tượng và môi trường cho rằng, kịch bản hài hòa nhất là kịch bản trung bình được khuyến nghị cho các bộ, ngành và địa phương làm định hướng ban đầu để đánh giá tác động của BĐKH, nước biển dâng và xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH. Vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ nước ta có thể tăng 2,3 độ C so với trung bình thời kỳ 1980-1999. Mức tăng nhiệt độ dao động 1,6-2,8 độ C ở các vùng khí hậu khác nhau.

Vào giữa thế kỷ XXI, mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 30cm và đến cuối thế kỷ XXI mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 75cm so với thời kỳ 1980-1999. Khi nước biển dâng, Đồng bằng sông Cửu Long và TP Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng nặng nề. Nếu mực nước biển dâng 65cm, TP Hồ Chí Minh bị ngập 128km2 (6,3% diện tích); nước biển dâng 75cm, diện tích bị ngập là 204km2 (10%); nước biển dâng 100cm, diện tích bị ngập là 473km2 (23%). Theo phân tích của các nhà khoa học, do tính phức tạp của BĐKH và những hiểu biết chưa thật đầy đủ về BĐKH của Việt Nam cũng như trên thế giới, cùng với yếu tố tâm lý, kinh tế - xã hội và tính chưa chắc chắn về các kịch bản phát thải khí nhà kính, tính chưa chắc chắn của kết quả mô hình tính toán xây dựng kịch bản… nên sẽ khó khẳng định được kịch bản nào sẽ xảy ra và hậu quả sẽ ra sao.

Hà Nội sẽ chịu áp lực nặng nề

Theo kịch bản trung bình, vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 2,6 độ C ở Tây bắc; 2,5 độ C ở Đông bắc, 2,4 độ C ở Đồng bằng Bắc bộ; 2,8 độ C ở Bắc Trung bộ, 1,9 độ C ở Nam Trung bộ, 1,6 độ C ở Tây Nguyên và 2,0 độ C ở Nam bộ so với trung bình thời kỳ 1980-1999. Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc và Bắc Trung bộ sẽ tăng nhanh hơn so với nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Nam. Tại mỗi vùng, nhiệt độ mùa đông sẽ tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè. Rõ ràng, Hà Nội cũng nằm trọn trong vùng ảnh hưởng, nên cũng sẽ gánh chịu những hiện tượng thời tiết cực đoan mà điển hình là trận mưa trăm năm có một vào đầu tháng 11-2008.

Khi nước biển dâng lên, những vùng đất ven biển, đồng bằng thấp, những thành phố ven sông, ven biển sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. GS Trần Thục đưa ra lời khuyên, người dân ở các vùng có nguy cơ bị nước biển dâng ảnh hưởng có thể tự tìm cách thích ứng với hoàn cảnh bằng nhiều cách, như trồng các loại cây chịu nước mặn, chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản, mua bảo hiểm rủi ro… Để ứng phó với những hậu quả có thể xảy ra, dựa vào các kịch bản, mỗi địa phương cần tự xây dựng kế hoạch hành động cho phù hợp. Không phải tự nhiên mà tại hội nghị tổng kết ngành TN-MT, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã lưu ý các địa phương bị ảnh hưởng nước biển dâng cần xây dựng những dự án, kế hoạch xây dựng đê biển, đê bao, đê sông và hệ thống chống úng ngập khẩn cấp.

Khi các vùng đất ven biển bị ngập, Hà Nội sẽ không bị ngập, nhưng sẽ phải chịu một áp lực nặng nề về vấn đề di dân. GS Trần Thục cho rằng, đây không phải là một vấn đề dễ dàng cho Hà Nội, bởi ngay bây giờ sức ép từ di dân tự do cũng làm cho Hà Nội gặp nhiều vấn đề nan giải. Do vậy, Hà Nội không thể đứng ngoài cuộc trong cuộc chiến với nước biển dâng và BĐKH.

Việt Nam có thể không phải là một trong những nước chính góp phần gây ra hiện tượng trái đất nóng lên, nhưng Việt Nam sẽ phải chịu những tác động nặng nề. Và Hà Nội cũng vậy.

(Nguồn: http://www.hanoimoi.com.vn/newsdetail/Moi_truong/305509/ha-noi-se-chiu-suc-ep-di-dan-tu-do.htm)

Đoạn sông Hồng chảy dưới chân cầu Long Biên (Hà Nội) 
bị thu hẹp chỉ còn 1/4. Ảnh: Quý Thông. (Nguồn: VNExpress)


Thursday, January 14, 2010

Vì Sao Ăn Chay: Cơ Đốc Phục Lâm & Ăn Chay


Tác giả: Tiến sĩ Richard Schwartz
Nguyên văn: Anh ngữ
Việt Nam Ăn Chay chuyển ngữ

Bà Ellen White, sinh năm 1827 và mất năm 1915, là người đồng sáng lập Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm. Bà là một người trường chay; những giáo lý về ăn chay và nếp sống lành mạnh của tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm một phần là nhờ nỗ lực tận tâm của bà. Bà tin rằng thân thể con người biểu tượng cho đền thờ Thượng Đế và do đó ta không được quyền lạm dụng. Bà cũng khuyên tất cả không nên hút thuốc lá và uống rượu.

Trên thế giới có khoảng 2 triệu tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm, 50% trong số đó đều ăn chay. Tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm chủ trương lối sống lành mạnh. Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm có cơ sở in ấn riêng và đã phát hành nhiều sách báo. Ngoài ra, Hội Thánh cũng có bệnh viện, tiệm thực phẩm thiên nhiên, nhà hàng chay, và viện đại học Loma Linda tại Hoa Kỳ.

Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy những tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm khỏe mạnh hơn phần đông dân số.


Lời Bà Ellen White:

Thịt không bao giờ là thức ăn lý tưởng, nhưng ngày nay ta càng nên từ chối ăn thịt quyết liệt hơn gấp đôi vì bệnh tật trong loài vật đang nhanh chóng gia tăng.  - 1902

Rau cải, trái cây, ngũ cốc phải là nguồn dinh dưỡng của chúng ta. Không một gram thịt nào được vào bao tử. Ăn thịt là phản tự nhiên. Chúng ta phải trở về với mục đích nguyên thủy của Thượng Đế khi sáng tạo ra loài người.  - 1903

Những người ăn thịt thật ra chỉ ăn ngũ cốc và rau cải đã được dùng qua, bởi thú vật đã ăn những chất dinh dưỡng này trực tiếp. Sức sống trong hạt ngũ cốc và rau cải truyền sang cho người ăn. Rồi người ta lấy dinh dưỡng bằng cách ăn thịt thú vật. Tốt hơn ta nên trực tiếp nhận nguồn dinh dưỡng bằng cách ăn thực phẩm mà Thượng Đế đã cung cấp cho chúng ta! - 1905
 
Nguồn: http://www.ivu.org/history/adventists/white.html

Wednesday, January 13, 2010

Vì Sao Ăn Chay: 7 món quà quý nhất



Ngày nay ăn chay là một điều thông thường và đáng ca ngợi trên nhiều phương diện. Trong tuần có 7 ngày, ta đều có lý do để... vui vẻ ăn chay. Sau đây là một vài gợi ý, mong tạo cho bạn nguồn cảm hứng để làm một điều tuyệt vời nhất bạn có thể làm trong thiên niên kỷ này: Ăn Chay.

THỨ HAI ta ăn chay: Vì tự thương thân mình, tránh biết bao chất độc và ngăn ngừa bệnh tật do ăn thịt gây ra.

THỨ BA ta ăn chay: Món quà lớn cho gia đình. Khi bản thân mình khỏe, đó cũng là một cách biểu lộ tình nghĩa đối với những người yêu mến mình, không muốn làm phiền và gây lo lắng cho người khác khi mình bệnh hoạn.

THỨ TƯ ta ăn chay: Bố thí sinh mạng cho loài vật. Ăn chay là tha mạng sống cho những con bò, con heo, con gà, con cá và biết bao loài khác khi ta không biến bụng mình làm mồ chôn cho xác thú. Ăn chay là cách cư xử của người quân tử, không hiếp đáp kẻ yếu hơn mình.

THỨ NĂM ta ăn chay: Việc làm cụ thể giúp cho môi trường được sinh tồn. Từ bao năm qua, người ta đã phá rừng để chăn nuôi gia súc lấy thịt. Rừng là lá phổi của Địa Cầu, hút thán khí và cho muôn loài dưỡng khí, nay rừng đang bị hủy diệt tàn khốc. Nếu ta không ăn thịt, những cánh đồng sẽ được dùng để trồng thêm cây cối, rau quả, làm đẹp và làm sạch hành tinh này.

Thứ SÁU ta ăn chay: Cứu nhân loại. Ăn chay là ban mạng sống cho loài người. Canh nông rau quả hữu cơ tiết kiệm vô số tài nguyên như đất, nước, nhiên liệu. Thay vì dùng tài nguyên đó chăn nuôi lấy thịt, vốn tốn kém rất nhiều, ta có thể khôn ngoan hơn, trồng rau cải, ngũ cốc để nuôi thêm bao nhiêu người đói trên thế giới. Hàng ngày có 16.000 trẻ em chết vì đói; hàng năm có 15 triệu trẻ em chết vì đói; và thế giới hiện có 400 triệu trẻ em còn đói khát mỗi ngày. Hãy cứu các em.

THỨ BẢY ta ăn chay: Đơn giản vì yêu. Ăn chay cho hạt giống từ bi trong tâm hồn ta được vun bồi, để những trái ngọt của yêu thương được nở rộ khắp nơi và ta cùng hân hoan chia sẻ cho nhau trong hành trình của cuộc đời này.

CHỦ NHẬT ta ăn chay: Lễ vật dâng lên cho vị Chủ nhân của linh hồn mình. Vị Chủ nhân, Ngài Tạo Hóa, Đấng Thiêng Liêng, Thượng Đế như một người Cha Lành, một người Mẹ Hiền, Ngài chỉ muốn những gì tốt đẹp nhất cho ta, mong cho ta được trưởng thành, có thể tự làm chủ, làm vị Thầy của chính mình và thể hiện những phẩm chất thanh tao, cao thượng, trong sáng.

Ngay hôm nay, hãy là một Vì Sao Ăn Chay.

Monday, January 11, 2010

Bếp Chay Thanh Nhẹ: Bánh mì Trung Ý (bruschetta)




Bánh mì Trung Ý (bruschetta)


Bánh mì bruschetta (phát âm tiếng Ý là brús-két-ta, nhưng những quốc gia nói tiếng Anh quen gọi là brús-shét-ta) xuất xứ từ miền trung nước Ý Đại Lợi vào thế kỷ từ 15. Bruschetta có nghĩa là nướng trên than. Đây là một món bánh mì ngoại quốc rất phổ biến và dễ thực hiện, các em thiếu nhi cũng có thể làm được. Thành phần vật liệu và 10 bước đơn giản như sau:

Vật liệu:

  • 5 trái cà chua vừa chín, cỡ trung bình, loại hữu cơ (trồng thiên nhiên, không dùng hóa chất)
  • 2 tép tỏi (tùy thích)
  • 1 muỗng canh dầu ô-liu nguyên chất (để trộn với hỗn hợp cà)
  • 1/4 chén dầu ô-liu nguyên chất (để phết lên bánh mì)
  • 1 muỗng cà-phê giấm nho thơm màu nâu (giấm balsamic); nếu không có giấm balsamic, có thể dùng ½ muỗng cà-phê giấm đỏ (hoặc không dùng giấm cũng được)
  • 10 lá rau quế tươi
  • Muối biển & tiêu (nêm nếm tùy theo khẩu vị) 
  • 1 ổ bánh mì Pháp (baguette)

Thực hiện:

1. Cà chua thái nhỏ, hình vuông con cờ.
2. Tỏi (tùy thích), thái nhuyễn.
3. Lá quế thái nhỏ.
4. Cho cà, tỏi, dầu, giấm vào tô. Trộn đều.
5. Cho lá quế vào.
6. Nêm muối, tiêu cho vừa ăn.
7. Thái bánh mì. Có thể thái xiên cho đẹp, hoặc chẻ dọc ổ bánh mì làm đôi, rồi cắt khúc khoảng ¾ gang tay.
8. Phết dầu ô-liu trên mặt bánh mì.
9. Cho hỗn hợp cà trên mặt.
10. Nướng trong lò nướng bánh mì, lửa cao, chừng 2-3 phút cho đến khi bánh mì vàng là được. (Nếu không có lò nướng bánh mì, bạn cũng có thể dùng chảo, vặn lửa nóng để chiên khô cho bánh mì giòn.)

Muốn món này đặc biệt ngon, các vật liệu như cà chua và lá quế phải tươi và hữu cơ, bánh mì mới, dầu nguyên chất, muối biển. Tóm lại, tránh dùng hóa chất; vật liệu càng tươi, càng thiên nhiên càng tốt. Thân chúc bạn và gia đình ăn chay thật vui vẻ!

Bạn có thể thay đổi vật liệu tùy theo cảm hứng và sở thích.
Chẳng hạn, bạn có thể thêm dưa leo, như trong hình này.

Sunday, January 10, 2010

Người Trường Chay: Thành viên Quốc hội Ấn Maneka Gandhi

 Indian Member of Parliament
Maneka Gandhi is a vegan.

(VNAC) - Đương kim thành viên Quốc hội Ấn quốc và chủ tịch của Ban giám khảo Toàn cầu về Năng lượng Quốc tế, bà Maneka Gandhi là một người thuần chay. Bà cũng từng giữ các chức vụ quan trọng trong chính phủ Ấn như Bộ trưởng Bộ Môi trường, Bộ trưởng Bộ Công lý Xã hội, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Bộ trưởng Bộ Phúc lợi Loài Vật (bộ này do chính bà sáng lập). Bà là quả phụ của Sanjay Gandhi, thứ nam của cố thủ tướng Ấn quốc Indira Gandhi.

Sinh ngày 26 tháng 8 năm 1956 tại Đề Li, Maneka từng là một người mẫu. Bà là một nhà tranh đấu cho môi trường, ký giả, xướng ngôn viên truyền thanh, truyền hình, và là tác giả một số sách, gồm các đề tài về luật pháp và phúc lợi loài vật. Năm 1992, bà Maneka Gandhi sáng lập tổ chức Loài Người Cho Loài Vật, một cơ quan phi chính phủ phục vụ cho quyền lợi thú vật lớn nhất tại Ấn Độ. Bà được giải Người Ăn Chay Xuất Sắc Nhất năm 1994 do Hội Ăn Chay tại Bombay trao tặng.

Bàn về những thiên tai tàn khốc trên Địa Cầu do biến đổi khí hậu gây ra, bà Maneka Gandhi nhấn mạnh: “Chúng ta gần lằn đỏ [ranh giới từ an toàn sang nguy hiểm] đến nỗi có thể sáng mai thức dậy và khám phá ra rằng không còn gì để cứu vãn nữa.”

Bà Maneka Gandhi chủ trương ăn chay, bảo vệ môi trường, và đối xử tốt với loài vật. Về việc ăn chay tại Ấn Độ, bà cho biết: “Khoảng 50% người Ấn đều ăn chay. Ăn chay được xem là sang trọng. Tất cả những người giàu có đều ăn chay. Những chính khách nồng cốt đều ăn chay. Thủ tướng và phủ thủ tướng đều ăn chay. Chủ tịch các công ty thường là những người ăn chay. Ăn chay được xem là một điều quý phái. Ăn thịt bị xem là thô. Ngay cả những người ăn thịt cũng đều xin lỗi và nói ‘Ồ, chúng tôi không ăn thịt ở nhà’ hoặc ‘Mỗi tuần chúng tôi chỉ ăn thịt 2 ngày,’ lúc nào họ cũng xin lỗi.”




(Tham khảo: http://www.indiaenews.com/europe/20080528/120880.htm
http://www.animalliberationfront.com/ALFront/Interviews/FLYING%20SOLO%20-%20THE%20MANEKA%20GANDHI%20INTERVIEW.htm
http://www.statemaster.com/encyclopedia/Maneka-Gandhi)

Saturday, January 09, 2010

Cùng Đọc Sách Hay: “Những điều kỳ diệu về Trái Đất và sự sống”



Trong chiều hướng hưởng ứng lời kêu gọi của những bậc lãnh đạo tinh thần để sống tốt hơn với môi trường và thiên nhiên cho một Địa Cầu bền vững, thương yêu, hôm nay chúng ta hãy cùng tìm hiểu thêm về hành tinh mà chúng ta đang sinh sống. Phó Giáo sư Tiến sĩ Tạ Hòa Phương, khoa Địa chất, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ tịch Hội Cổ sinh và Địa tầng Việt Nam, là tác giả quyển sách “Những điều kỳ diệu về Trái Đất và sự sống.”  


Sau đây là trích đoạn bài điểm sách của Thùy Dung, Thư Viện Quốc Gia. Mời các bạn cùng đọc và thưởng thức.
(http://www.nlv.gov.vn/nlv/index.php/20081003166/Gioi-thieu-Sach/Nhung-dieu-ky-dieu-ve-Trai-Dat-va-su-song1.html)


Nơi chúng ta đang đứng là điểm nào của Trái Đất? Đó có phải là những vị trí độc đáo? Hành tinh kỳ diệu này của chúng ta chứa đựng những điều kỳ diệu nào? Nguồn gốc sự sống của Trái Đất? Còn bao nhiêu điều khiến chúng ta thắc mắc về Trái Đất.


Trái Đất là hành tinh duy nhất có sự sống trong hệ Mặt Trời. Nhưng không mấy người cảm nhận điều này như một ân huệ lớn và độc nhất vô nhị của thiên nhiên đã ban phát cho muôn loài sinh vật mà con người là trung tâm.


Cuốn sách “Những điều kỳ diệu về Trái Đất và sự sống” của tác giả Tạ Hòa Phương mô tả những điều khó tin nhưng có thật trong thế giới sinh vật từ cổ chí kim, cho ta thấy sự kỳ diệu của thiên nhiên. Đã xa rồi thời kỳ thống trị của các truyền thuyết hoang đường, cách giải thích mơ hồ về nguồn gốc và thời gian sinh thành Trái Đất. Những cách giải thích đó đã không còn thỏa mãn được nỗi khát khao của con người trong việc tìm hiểu cội nguồn hành tinh đã cưu mang mình từ cõi hỗn mang vươn lên ánh sáng văn minh.


“Những điều kỳ diệu về Trái Đất và sự sống” do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2007 gồm 4 chương:
Chương I: Trái Đất – cái nôi của sự sống;
Chương II: Sinh vật trong lịch sử Trái Đất;
Chương III: Sinh vật xưa và nay;
Chương IV: Hành tinh tràn đầy sự sống.
Cuốn sách dày 176 trang, khổ 19x27. Bìa sách được thiết kế đơn giản nhưng thể hiện sự đa dạng và phong phú về sự sống của Trái Đất.


Bạn đọc sẽ bị lôi cuốn vào thế giới sinh vật với biết bao điều kỳ lạ, bí ẩn bởi những câu chữ và hình ảnh minh họa đa dạng. Cùng với những lực kiến tạo vĩ đại gây chuyển động trên quy mô toàn cầu, thế giới sinh vật Trái Đất cũng không ngừng biến đổi, thích nghi và phát triển. Những chu kỳ của sinh giới có tác động không nhỏ đến quá trình địa chất xảy ra trong quá khứ, tạo nên hơi thở và nhịp sống kỳ diệu của hành tinh này.


Tác giả đã tái hiện lược sử Trái Đất từ buổi đầu sơ khai đến nay với những vận động, va chạm không ngừng nghỉ của các mảng thạch quyển. Qua rất nhiều trang sách, Hòa Phương đã giới thiệu về thế giới sinh vật hóa đá – từ những sinh thể nhỏ xíu đến những con thú khổng lồ, từ những hóa thạch cá quý hơn vàng được phát hiện trong lòng đất nước ta đến những “hóa thạch sống” còn tồn tại đó đây trên thế giới.


Độc giả còn có cơ hội tìm hiểu vai trò của sinh vật trong việc hình thành các tầng đá, các khoáng sản. Bằng cách nào cây xanh mách bảo con người nơi ẩn náu của quặng mỏ? Điều gì làm nên hiện tượng lân quang óng ánh trên mặt biển đêm? Vì sao vị trí thủy tổ của chim thủy tổ bị lung lay? Rồi cớ sao cá chình châu Âu phải vượt hàng ngàn cây số qua Đại Tây Dương để sinh con đẻ cái?... Những kết quả nghiên cứu tưởng chừng vô cùng khó khăn, khó hiểu của các ngành khoa học về Trái Đất, trong đó có Cổ sinh – Địa tầng học, được trình bày một cách cuốn hút, dễ hiểu. Mỗi trang sách như một cửa sổ nhỏ mở ra những chân trời rộng lớn, cho ta thấy những nét sinh động của Trái Đất, nơi còn biết bao điều cần được khám phá.


Theo các nhà cổ sinh, sự sống xuất hiện trên Trái Đất cách đây khoảng 3 tỉ năm. Từ đó đến nay, thế giới sinh vật đã trải qua một quá trình phát triển vô cùng  phức tạp. Các nhóm sinh vật kế tiếp nhau xuất hiện rồi cùng bị tiêu diệt do những biến động không ngừng của điều kiện môi trường. Nhưng cũng có loài sinh vật sống từ nhiều triệu năm trước, đến nay vẫn tiếp tục sinh tồn với hình dạng, kích thước hầu như không biến động. Chúng được coi là những “hóa thạch sống”. Người ta chỉ biết những sinh vật nào có cấu tạo thích nghi đặc biệt, khi mà sự chọn lọc tự nhiên đạt tới mức ổn định, mới có thể vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thời gian.


Thế giới hữu sinh thật muôn màu muôn vẻ. Thực vật trang điểm cho Trái Đất bằng màu xanh huyền diệu của mình. Chúng cố vươn cao, trải rộng, chiếm lĩnh những khoảng không gian bao la ngập gió và nắng trời. Chúng phô bày những cánh hoa sặc sỡ hoặc những chùm quả mọng đậm hương để quyến rũ côn trùng, chim chóc... Trái lại, động vật trong cuộc đấu tranh sinh tồn lại có xu hướng hòa hợp với môi trường. Nhiều động vật, côn trùng cố tình lánh mặt vào thiên nhiên. Do vậy, mặc dù có rất nhiều loài côn trùng sống trên mặt đất nhưng chúng ta lại khó có thể nhận ra chúng. Chẳng hạn như những con kỳ nhông ẩn mình trong cát, những con cá tetradon có màu xanh khắp mình giống như phiến đá phủ rêu xanh, con bọ ngựa có thân hình màu xanh lá cây nhưng đôi chân trước lại có một đốt màu tím nhạt, khi giơ chân lên, các đốt màu tím phô ra như cánh của một bông hoa mới nở... Một số động vật có khả năng thay đổi màu sắc tùy theo hoàn cảnh sống như cào cào, tắc kè hoa, bươm bướm, bọ lá... Ngụy trang là một phương thức tự vệ và tấn công hữu hiệu của nhiều loài động vật, muốn tồn tại và duy trì nòi giống, chúng không ngừng có xu hướng vươn tới sự hoàn thiện.


Cuốn sách cũng dành một số trang viết về con người – đỉnh cao tiến hóa của vật chất sống trên Trái Đất. Sự xuất hiện của loài người dường như có quan hệ với khởi nguồn của một đại dương ở Đông Phi. Từ khi xuất hiện trên Trái Đất, loài người đã không ngừng đấu tranh để tồn tại và phát triển. Với năng lực trí tuệ ngày càng hoàn thiện, con người đã vươn lên làm chủ thiên nhiên, đạt được những thành tựu to lớn trong nhiều lĩnh vực hoạt động. 


Trái Đất là một hành tinh xanh tràn đầy sự sống và là cái nôi diệu kỳ của sự sống. Với thời gian, những chứng cứ khoa học để giải quyết vấn đề nguồn gốc loài người được phát hiện và tích lũy ngày càng nhiều. Đó chính là hóa thạch của các dạng người cổ, nhất là những hóa thạch có tính trung gian, cho phép khẳng định nguồn gốc động vật của loài người. Những hóa thạch quý giá đó phần lớn đã được phát hiện ở Đông Phi, khiến cho nơi đây được suy tôn là cái nôi của nhân loại. Từ nơi khởi nguồn đó, các bầy người nguyên thủy đã phân tỏa, chiếm lĩnh các vùng đất khác trên hành tinh. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Tạ Hòa Phương đã liệt kê những phát hiện quan trọng nhất của các nhà khảo cổ về chuỗi tiến hóa từ người vượn thành người như: người vượn; người khéo léo, người đứng thẳng, người cận dại, người hiện đại. Ở giai đoạn người hiện đại thì các công cụ lao động của họ đã rất phong phú và đa dạng, đã mang tính nghệ thuật hoặc huyền bí. Nền văn minh của loài người từ đó đến nay đã phát triển và hoàn thiện với tốc độ ngày càng cao.


Càng ngày, con người càng can thiệp sâu rộng vào thiên nhiên vì lợi ích của mình. Với đà tăng nhanh dân số, với sự phát triển thần tốc của khoa học kỹ thuật, con người không ngừng tăng cường khai thác thiên nhiên. Tác động của con người ngày nay là một nhân tố mạnh mẽ nhất làm thay đổi bộ mặt Trái Đất, trong đó có sinh quyển. Con người có thể trồng nên những cánh rừng tươi tốt trên miền đồi trơ trọi đá ong, dẫn nước vào cải tạo sa mạc, tát cạn đầm lầy, đổi hướng dòng sông, đắp đê ngăn nước mặn... tạo nên những đường nét mới của cảnh quan địa lý.


Theo tác giả, con người là chủ nhân của hành tinh mang sự sống và là sinh vật tiến hóa nhất giữa muôn loài. Do đó, con người phải thấy được trách nhiệm của mình, gìn giữ và bảo vệ môi trường để Trái Đất mãi đẹp, giàu sức sống.


Có thể nói, chỉ trong gần 200 trang của cuốn sách với những hình ảnh minh họa sống động, tác giả Tạ Hòa Phương đã cho chúng ta thấy cả một thế giới đa dạng từ những sinh vật nhỏ bé đến những sinh vật tiến hóa như con người. Phát hiện kể trên chứng tỏ rằng quanh ta còn có biết bao điều bí mật chưa được khám phá. Cũng thông qua công trình nghiên cứu của mình, tác giả cũng muốn nhắn nhủ tới chúng ta, những chủ nhân của hành tinh này hãy sống và bảo vệ lấy Hành tinh xanh đó để nó có thể mãi mãi tươi đẹp và tràn đầy sự sống. 


Friday, January 08, 2010

Môi Trường Quanh Ta: Lời khuyên của Đức Thánh Cha Benedict XVI


 Đức Giáo Hoàng Benedict XVI
ban thông điệp bảo vệ thiên nhiên, cứu Địa Cầu 

Nhân dịp đầu năm 2010, từ Tòa Thánh Vatican, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã kêu gọi mọi người thay đổi nếp sống để cứu Địa Cầu. Ngài bảo rằng  trách nhiệm giữ gìn môi trường vô cùng quan trọng cho hòa bình thế giới. (Nguồn: http://www.reuters.com/article/idUSTRE6000G220100101)

Sau đây là trích đoạn bài viết của Linh mục Giuse Vũ Tiến Tặng, đăng trên VietCatholic News (02 tháng 1, 2010) với tựa đề: "Đức Thánh Cha nhắc đến trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên." (Nguồn: http://www.vietcatholic.org/News800/ReadArticle.aspx?ID=75155)

Bảo vệ thiên nhiên là trách nhiệm của mỗi người trên bình diện cá nhân, tập thể, quốc gia và thế giới, Đức Thánh Cha đã nhắn nhủ như vậy trước giờ Kinh Truyền Tin của trưa ngày đầu tiên trong năm mới 2010 tại quảng trường Thánh Phêrô, đồng thời quảng diễn thêm chủ đề của Ngày Hòa Bình Thế giới 2010: “Nếu bạn muốn kiến tạo hòa bình, cần bảo vệ thiên nhiên.”


Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI mong muốn rằng năm 2010 là cơ hội để trả lại cho ngôi nhà chung, tức là thế giới này, điều tốt đẹp hơn.


Ngài cũng đưa ra điều kiện này: “Có một mục tiêu là tất cả chúng ta đều có thể chia sẻ, điều kiện không thể thiếu đối với việc thiết lập nền hòa bình, đó là quản lý theo sự mách bảo của công lý và khôn ngoan nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất. Nếu muốn xây dựng hòa bình thì cần phải bảo vệ môi trường thiên nhiên: đó là chủ đề mang tính thời sự mà tôi đã đề cập đến trong sứ điệp của Ngày Hòa Bình Thế Giới lần thứ 43.”


Đức Thánh Cha cũng nêu lên tinh thần trách nhiệm của cá nhân và nói rằng: “Tôi muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các gia đình và các đoàn thể địa phương là cần có những chọn lựa đặc biệt trong việc bảo vệ môi trường. Một sự thay đổi não trạng thúc đẩy mọi người chấp nhận một cách thức sống mới là điều hểt sức cần thiết (x. Sứ Điệp Hòa Bình Thế Giới 2010 số 11). Thực vậy tất cả chúng ta đều chịu trách nhiệm trước việc bảo vệ và chăm sóc thiên nhiên.”


Đồng thời Đức Thánh Cha cũng nói đến vai trò nòng cốt liên quan đến “giáo dục.” Chính vì vậy, ngài mời gọi hãy tôn trọng tất cả các loài thụ tạo và sự sống của “nhân loại.”

Nguyện xin mọi người lắng nghe thông điệp của những bậc lãnh đạo tinh thần đáng kính của nhân loại trong thời đại này và thực hành theo những lời các ngài khuyên giải - để phát triển tình thương giữa người và thiên nhiên, giữa người và vật, giữa người và người, cho sự tồn vong của Địa Cầu, cho thế hệ mai sau và ngay cả thế hệ của chính chúng ta.

Thursday, January 07, 2010

Khuôn Vàng Thước Ngọc: Kinh Pháp Cú, Phẩm X



 
Kinh Pháp Cú được lưu trữ tại 
Viện Bảo Tàng Quốc Gia, Colombo, Tích Lan. 
Bản kinh bằng tiếng Pali viết trên lá bối.

Giới thiệu Kinh Pháp Cú
~ Bình Anson
(Nguồn: http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-phapcu-ev/dhp-gt.htm)

Kinh Pháp Cú (Dhammapada) là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) trong Kinh tạng Pali (Suttanta Pitaka). Ðây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Pháp (Dhamma) có nghĩa là đạo lý, chân lý, lời dạy của Ðức Phật; Cú (Pada) là lời nói, câu kệ. Ngoài ra, trong ngữ văn Pali, "Pada" còn có nghĩa là con đường. Do đó, Dhammapada thường được dịch là Con đường Chân lý (Path of Truth), Con đường Phật Pháp (Path of the Buddha's Teaching).

Dhammapada là tập hợp 423 bài kệ do đức Phật nói ra trong nhiều dịp khác nhau, trong suốt 45 năm hoằng dương Chánh Pháp của Ngài. Các bài kệ nầy được sắp xếp trong 26 phẩm, do các vị đại đệ tử thu xếp và tụng đọc trong Ðại hội Kết tập Kinh điển lần đầu tiên sau khi Ðức Phật nhập diệt. Mỗi bài kệ chứa đựng một nội dung tu học rất sâu sắc và phong phú, không thể nào chỉ đọc một lần mà hiểu hết được. Cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần, tra cứu các bản chú giải, và suy nghiệm từ các tu chứng tự thân thì mới mong thông ngộ và thấu đạt ý nghĩa của các lời dạy cao quý đó. Mỗi bài kệ là một nguồn cảm hứng cao đẹp, một lối đi mới lạ, một sức mạnh kỳ diệu giúp chúng ta có một niềm tin vững chắc hơn trên con đường tu học để tiến đến giác ngộ, giải thoát.

Kinh Pháp Cú
 Phẩm X (Phẩm Hình Phạt)

Bản dịch Việt ngữ: Tịnh Minh
Trường Cao cấp Phật học
Sài Gòn, PL. 2539 - TL. 1995

(Nguồn: http://www.quangduc.com/kinhdien/231phapcutk10.html)

129.
Hình phạt, ai cũng kinh,
Mất mạng, ai cũng khiếp.
Lấy ta suy ra người,
Chớ giết, chớ bảo giết.


130.
Hình phạt ai cũng kinh,
Sinh mệnh, ai cũng tiếc,

Lấy ta suy ra người,
Chớ giết, chớ bảo giết


131.
Ai mưu cầu hạnh phúc,
Bằng cách hại chúng sanh,
Các loài thích an lành,
Ðời sau chẳng hạnh phúc.


132.
Ai mưu cầu hạnh phúc,
Bằng cách không sát sanh,
Các loài thích an lành,
Ðời sau được hạnh phúc.


133.
Chớ buông lời cay nghiệt,
Nhiếc người, người nhiếc ta,
Khổ thay lời hiềm hận,
Xung đột mãi lại qua.


134.
Nếu tự mình im lặng,
Như chuông nứt nhiều đàng,
Người ấy chứng Niết bàn,
Hận thù không còn nữa.


135.
Như gậy người chăn bò,
Lùa bò ra đồng cỏ,
Già chết cũng thế đó,
Xua người đến diệt vong.


136.
Kẻ ngu gây ác nghiệp,
Không biết việc mình làm,
Tự chuốc khổ thở than,
Như bị lửa thiêu đốt.


137.
Dùng hung khí trừng phạt,
Người hiền thiện từ tâm,
Sẽ bị nghiệp hành thân,
Một trong mười oan nghiệt.


138.
Hoặc khổ đau khốc liệt,
Hoặc tai biến tổn thân,
Hoặc bịnh ác vô ngần,
Hoặc tán tâm loạn ý.


139.
Hoặc bị vua bức bách,
Hoặc bị tội vu oan,
Hoặc quyến thuộc ly tan,
Hoặc gia tài đổ nát.


140.
Hoặc nhà cửa cháy mạt,
Hoặc mất mạng, tán thân,
Kịp đến khi mãn phần,
Chắc chắn đọa địa ngục.


 141.
Chẳng phải sống lõa thể,
Bện tóc, mình trét bùn,
Tuyệt thực,nằm trên đất,
Bôi tro, ngồi xổm chân,
Là sạch được thân tâm,
Nếu chưa dứt nghi hoặc.


 142.
Dù trang sức lộng lẫy,
Nhưng nhiếp phục an bình,
Tự chế, tu phạm hạnh,
Không sát hại sanh linh,
Ðó là Bà-la-môn,
Tỳ kheo hay khất sĩ.


143.
Hiếm thấy ai ở đời,
Biết tự chế khiêm tốn,
Tránh mọi lời thương tổn,

Như ngựa hiền tránh roi.


144.
Như ngựa hiền phải roi,
Hãy nhiệt tâm hăng hái,
Giới đức, tín, tinh cần,
Trạch pháp, tu thiền định,
Minh hạnh, tâm chánh tịnh,
Diệt thống khổ ưu phiền.


145.
Người đem nước dẫn nước,
Tay làm tên vót tên,
Thợ mộc uốn gỗ bền.
Bậc trí tự điều phục.


(Câu kệ này ý nói người có trí huệ biết tự chủ và kiểm soát để luôn hướng về đường ngay nẻo thẳng, như khi mũi tên cong thì người làm tên uốn ngay lại lập tức.)

 
Bản dịch của Tỳ Kheo Giới Đức cho kệ 145. 
(Nguồn: http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-phapcu-ev/klv-01.htm)

Ðào mương dẫn nước, khéo thay!
Mũi tên cong vậy, uốn ngay, chẳng phiền
Gỗ vênh thợ mộc đẽo liền
Khiển tà thành chánh, trí hiền nhiếp tâm!


Wednesday, January 06, 2010

Vì Sao Ăn Chay: 24 lý do ăn chay


24/24 Lý Do: Hãy Ăn Chay Cho Sức Khỏe

Nguồn: www.noithatchua.com/tin-tuc/95-nhung-ly-do-de-chung-ta-an-chay.html
Ảnh lực sĩ Rich Roll: http://www.peta.org/featurerichroll.asp



 Lực sĩ ăn chay Rich Roll: chạy đường dài, đua xe đạp, bơi lội 
"Một trong 25 người đàn ông khỏe nhất thế giới" (2009)


1. Ăn chay giúp cơ thể không bị thiếu hụt các chất dinh dưỡng. Nếu không có những dưỡng chất từ thức ăn thực vật sẽ không thể đảm bảo đủ những chất dinh dưỡng cần thiết cho chức năng của cơ thể con người.
2. Ăn chay giúp tránh những chất béo cao và cholesterol. Thức ăn động vật có hàm lượng chất béo cao và chất béo bão hòa. Thực vật không có chứa cholesterol.
3. Ăn chay giúp ngăn ngừa sự thiếu hụt chất xơ và các chất tinh bột cần thiết cho cơ thể. Thức ăn thực vật có hàm lượng chất xơ cao hơn thịt.
4. Ăn chay giúp ngăn ngừa sự thiếu hụt vitamin B, vì thịt rất ít vitamin.
5. Ăn chay giúp tránh những hóa chất công nghiệp. Chúng tồn tại với hàm lượng cao trong chuỗi thức ăn, thực phẩm động vật chứa hàm lượng các chất hóa học nông nghiệp.
6. Ăn chay giúp hạn chế vi sinh vật gây bệnh. Có một số lượng lớn vi trùng và vi khuẩn rất nguy hiểm trong thịt động vật. Khi bạn ăn thịt, bạn cũng sẽ tiêu thụ những vi sinh trong thịt.
7. Thịt có nhiều giun lãi và những sinh vật ký sinh.
8. Thực phẩm thực vật giữ lâu hơn thực phẩm động vật.
9. Ăn chay giúp ngừa bệnh tim. Ăn thịt gia tăng nguy cơ đau tim. Mối tương quan này được chứng minh từ những tài liệu nghiên cứu của dịch tễ học.
10. Ăn chay giúp ngăn ngừa ung thư. Hầu hết những chất ngăn ngừa ung thư căn bản là vitamin C, B-17, beta carotene, NDGA (nordihydroguaiaretic acid), không có chất ngừa ung thư nào có nguồn gốc từ động vật. Hầu hết thịt khi bị nấu lại sinh ra những dàn benzen và những phức hợp gây ung thư khác.
11. Ăn chay giúp phòng chống loãng xương.
12. Ăn chay giúp phòng chống sỏi mật và sỏi thận.
13. Ăn chay giúp phòng chống tiểu đường.
14. Ăn chay giúp phòng tránh đa xơ cứng.
15. Ăn chay giúp phòng chống chứng viêm khớp.
16. Ăn chay giúp phòng bệnh về răng nướu.
17. Ăn chay giúp phòng tránh mụn trứng cá. Tình trạng này sẽ nặng thêm bởi thức ăn động vật.
18. Ăn chay giúp tránh bệnh béo phì. Các nghiên cứu chứng thực rằng người ăn chay có khuynh hướng mảnh dẻ hơn người ăn thịt. Chứng béo phì được coi như một căn bệnh.
19. Giảm nguy cơ mắc các chứng ngộ độc đường ruột. Sản phẩm từ thịt động vật làm nhiễm trùng ruột kết.
20. Thời gian xâm nhập của mầm bệnh trong thực phẩm động vật vào cơ thể rất nhanh chóng. Độc tố từ thịt động vật di chuyển rất nhanh qua ống tiêu hóa, chỉ tốn rất ít thời gian để phá hủy và tạo cơ hội cho những căn bệnh cho cơ thể.
21. Thịt động vật chứa nhiều chất bài tiết. Thức ăn từ động vật chứa đựng chất bài tiết bao gồm adrenaline, urê và acid lactic v.v.
22. Ăn thịt động vật làm gia tăng dư thừa chất đạm. Trung bình một người Mỹ ăn gấp 400% lượng chất đạm tiêu chuẩn hàng ngày. Điều này gây ra sự dư thừa nitrogen trong máu và phát sinh nhiều vấn đề sức khỏe.
23. Ăn chay giúp kéo dài tuổi thọ. Những người sống lâu trăm tuổi thường duy trì một lối sống không ăn thịt.
24. Ăn chay mang lại một cuộc sống hạnh phúc, khỏe mạnh.

Lương tâm người ăn chay sẽ nhẹ nhàng hơn vì lập tức chấm dứt nghiệp sát sinh, không còn gây hận thù với loài vật (bò, heo, gà, cá, dê, vịt, ngỗng, thỏ, khỉ, chuột, chó, mèo, bồ câu, cừu, gà tây, chim cút, cua, tôm, tép, ốc, mực, nghêu, lươn, rắn, sò, hến, ếch, nhái, dế, cóc, nai, gấu, cọp, và biết bao loài khác bị con người sát hại). Nếu đa số theo nếp sống ăn chay, người Việt Nam hẳn sẽ là những người vui vẻ, nhẹ nhàng và thanh thản nhất thế giới! Chúng ta không mất mát gì mà còn được nhiều lợi ích.

Monday, January 04, 2010

Bếp Chay Thanh Nhẹ: Nước chấm chay Từ Bi

Nước Chấm Chay Từ Bi

    * 1 chén nước ấm
    * 1 chén nước dừa tươi (nếu không có dừa tươi có thể dùng soda, như Coco Rico)
    * 2 muỗng canh nước chanh vắt
    * 3 muỗng cà-phê muối biển (sea salt)
    * 1 muỗng canh mật thùa (agave) hoặc đường thuần chay
    * 1 muỗng cà-phê dung dịch aminô axít (Bragg's Liquid Amino Acids) hoặc nước tương
    * Một chút bột nêm thảo mộc
    * 1 trái ớt tươi, thái lát mỏng (tùy thích)
    * 1 muỗng cà-phê tương ớt tỏi xay (tùy thích)


Khuấy đều những vật liệu trên. Vật liệu có thể gia giảm tùy theo khẩu vị. Nước chấm chay này có tên Từ Bi vì ta không cần giết cá, vừa tránh sát nghiệp mà vẫn có nước chấm thật ngon. Nước chấm chay là món căn bản cần thiết khi ta dùng những món như cơm tấm bì chả chay, bún chả giò chay, bì cuốn chay v.v.  Mời bạn và gia đình cùng thử!  




Sunday, January 03, 2010

Người Trường Chay: Nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch

VEGETARIAN: 
Vietnamese poet Nguyễn Khắc Thạch
Photo by Lê Vĩnh Thái

Người Trường Chay: Nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch
Hòa Bình / Việt Nam Ăn Chay

(VNAC) - Nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch sinh năm 1948 ở miền Trung nước Việt. Anh là tổng biên tập Tạp chí Sông Hương và là một người trường chay.

Theo Tạp chí Sông Hương: "Anh từng ở nhiều nơi: Nghệ An, Hà Tây, Quảng Bình, Huế... Anh từng học nhiều trường: Kinh tế kế hoạch, Đại học Báo chí, Viết văn Nguyễn Du... Anh từng giữ nhiều chức vụ: Ủy viên BCH Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế, ủy viên BCH Hội Nhà báo Thừa Thiên Huế. Tổng thư ký Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế, Phó Chủ tịch Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế, Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương...  Anh cũng từng nhận nhiều giải thưởng văn học: Giải thơ hay Tạp chí Cửa Việt (1991). Giải A, giải Cố đô Huế lần thứ nhất (1987 - 1992). Giải hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế (1993). Giải B, giải Cố đô Huế lần thứ hai (1992 - 1997). Giải hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế (2002). Giải B, giải Cố đô Huế lần thứ ba (1998 - 2003)."

Các thi tập đã xuất bản của thi sĩ Nguyễn Khắc Thạch bao gồm "Dòng sông một bờ" (1989), "Nơi ta sẽ về" (1993), và "Mưa hai mặt" (2002).

Trích đoạn bài viết trên báo Tiền Phong tháng 3/2007 về thi sĩ trường chay Nguyễn Khắc Thạch như sau:

"Từ trước Tết Đinh Hợi mấy tháng đến nay, Thạch bắt đầu chuyển qua ăn chay và đi bộ. Không phải đi bộ thể dục mấy cây số buổi sáng để luyện gân cốt, chống béo phì, mà lấy đôi chân mình làm phương tiện di chuyển trên đường hàng ngày hẳn hoi. Nghĩa là đi làm, đi họp, đi chơi…tất tật, Thạch đều cuốc bộ.

Không phải ăn chay ngày rằm, cuối tháng để “nhớ Phật” như mấy người “tu tại gia” ở Huế, mà trường chay như mấy thầy sư chùa. Tôi thấy nhà thơ nào cũng ngất ngất rượu suốt ngày, họ bảo “thơ là lời của tửu thần”. Thạch không rượu, không nhậu, vẫn cứ thơ, mà thơ hút hồn người ta hẳn hoi, thế mới lạ.

....Không phải năm 2007 này Thạch mới ăn chay. Hơn chục năm trước Thạch đã tập ăn chay mấy đợt dài. Bát cơm, cọng rau muống luộc chấm xì dầu, quả cà pháo, miếng đậu phụ... cũng ngon lành... Hình như mỗi khi có chuyện gì đó bức xúc, chấn động trong tâm, Thạch lại chuyển từ mặn sang chay. Từ trai kỳ (nhị trai, tứ trai- tức ăn chay hai ngày, bốn ngày một...) đến trường trai là một sự thoát, tức là chay đã thành nghiệp rồi. Có ba cung bậc chay: ăn chay để chữa bệnh (y thuật), ăn chay cho đằm tính lại, ăn chay để hướng thiện (tâm lý) và ăn chay vì con người đã ngộ ra mình trong đời sống tâm linh thăm thẳm. Đó là bản tính không có gì có thể thay đổi được."


Có một dòng sông mang tên em,
Dòng sông anh tự đặt
Xin mùa thu chiếc lá làm thuyền

Có một dòng sông  trôi vào lãng quên
nước trong như nước mắt
điều chưa đến mà sao thấy mất

Có một dòng sông chỉ có một bờ
Phía bên kia quay mặt
dòng sông anh không qua được bao giờ.
                                                (Dòng sông một bờ)

Hạt mưa cứ ngỡ của trời
Ai ngờ đất khát vẽ vời làm mưa
Nối bây giờ với xa xưa
Biết mưa còn nối bây giờ - mai sau?
Hạt mưa tan vỡ vì nhau
Hình như mưa cũng đổi màu buồn vui.
                                                            (Mưa)

Có một mùa hè mắc cỡ
Cỏ hoang neo gió sững sờ
Lá bàng rơi nung lửa nhớ      
Đài sen rụng vỡ hương mơ
                                      (Kí ức)


- Vậy, nhan đề "Dòng sông một bờ," "Mưa hai mặt" là cách nói nghe cho lạ, hay ông có dụng ý?

- Thực ra là cả hai. Cách nói của thơ trước hết phải lạ. Song, nếu chỉ dừng lại ở sự lạ mà không có dụng ý gì, nghĩa là không có biểu tượng thì nghĩa của thơ vẫn nằm trong vỏ bọc của xác chữ. Dòng sông một bờ không chỉ là sự nhìn ngang qua phía bờ kia quay mặt mà còn là những gì phải ngước lên, kiếp người phù du ngắn ngủi khó vươn tới được. Mưa hai mặt ngoài nghĩa hai mặt của một vấn đề, còn là nỗi ám ảnh về sinh tử, luân hồi, về sự chẻ đôi của thói thường theo cơ chế nhất niệm khởi, thiện ác phân.

- Trong Tâm Kinh Bát Nhã của Phật pháp Thiền Tông có một câu niệm chú: “Này trí tuệ, đi qua bờ bên kia, qua đến bờ bên kia!". Còn thơ ông lại:“Có dòng sông chỉ có một bờ/ phía bờ kia quay mặt/ dòng sông anh không qua được bao giờ”. Ông giải thích điều này như thế nào?

- Bờ bên kia trong câu niệm chú đó là bờ của giác ngộ, bờ của Đạo. Còn trong bài thơ của tôi là bờ của khát vọng, của Đời. Dù Đạo hay Đời thì tôi vẫn phải có cái bờ bên này để đứng mà ngóng qua bên kia. Có thể cái bờ bên kia là hư, nhưng nếu không có nó thì bờ bên này trong cuộc sống trở nên trần trụi quá! Thiền và Thơ có sự tương ngộ với nhau ở mặt trực giác, chúng không thuộc phạm trù của lý trí, của logic. Lẽ vậy, đã duy lý thì không hiểu được Thơ, đã duy vật thì không hiểu được Thiền.

Tôi đang tồn tại một cuộc sống nháp, nên e rằng thơ tôi cũng chỉ là một bản nháp mà thôi. Tuy nhiên, cũng có người đem đời mình ra làm bản nháp cho thơ, để thơ thành bản chính. Tôi thì chưa được như thế. Nhưng dù sao, tôi cũng đã làm được một chút gì đó trong thơ, có người nói đấy là giọng riêng. Cứ cho là như thế. Ở đây, cần một sự chân thành. Đã là người thơ, trong vòng tục lụy, ai mà chả bị ám ảnh về không gian phẩm cấp và từng canh cánh không biết có ai khóc cho mình không.

Nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch sống trọn vẹn cho văn chương, cho chức năng nghề nghiệp, cho môi trường quanh mình, sống lành mạnh qua việc trường chay, sống nhẹ nhàng hướng về cõi tâm linh. Việt Nam Ăn Chay xin mạn phép thay mặt các bạn thú, gửi lời đa tạ nhà thơ:

"Khắc ghi ân trọng kiếp này

Nguồn tham khảo: 
http://vietbao.vn/Van-hoa/Thi-si-an-chay-truong-va-cuoc-bo-lam-tho/70082897/181/
http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=0&catid=7&ID=810&shname=Nguyen-Khac-Thach-nguoi-di-chan-tran-tren-luoi-dao-ben-cua-su-that
http://vietbao.vn/Van-hoa/Nguyen-Khac-Thach-ton-tai-bang-cuoc-song-nhap/10807683/181/
http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=4&catid=18&ID=3634&shname=Gioi-thieu-chi-hoi-nha-van-Viet-Nam-tai-Hue-Nha-tho-Nguyen-Khac-Thach

Saturday, January 02, 2010

Biến Đổi Khí Hậu: Sách James Hansen, Việt Nam & Mã Lai làm xanh

Sách mới của Tiến sĩ James Hansen cảnh báo về cơ hội cuối cùng để cứu nhân loại. Hầu thúc giục việc đối phó với hâm nóng toàn cầu vì lợi ích của thế hệ của chính ông và các thế hệ tương lai, Tiến sĩ Hansen viết cuốn sách “Bão tố của cháu tôi: Sự thật về tai họa khí hậu sắp tới và cơ hội cuối cùng của chúng ta để cứu loài người.” Trong sách này, chuyên gia khí hậu học Hoa Kỳ và Giám đốc Viện Goddard cho Nghiên cứu Vũ trụ của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia (NASA) lưu ý về điểm không xoay ngược lại được của khí hậu đang tiến gần nhanh hơn so với dự đoán. Cuốn sách còn cảnh báo về hậu quả nếu chính phủ và các viên chức không hành động nhanh để ngăn hâm nóng toàn cầu, đồng thời nhấn mạnh rằng nỗ lực ổn định sinh thái rất quan trọng đối với sự sinh tồn của Địa Cầu.

Được tổ chức bởi nhiều nhóm môi trường khác nhau, trên 1.000 thiếu niên tại nhiều nơi khác nhau ở Việt Nam tham gia chương trình ý thức sinh thái, với sinh hoạt truyền bá thông tin về những hoạt động xanh hữu ích như đạp xe đạp và dùng vật dụng khác để thay thế các bao nhựa.

Hội đồng Thành phố Ampang Jaya ở Mã Lai Á giúp hồi sinh chương trình truyền thống “Một Đời, Một Cây,” nghĩa là một cây được trồng cho mỗi lần bé sơ sinh được ra đời trong một gia đình. Hiện nay có 97.000 cây con đang làm xanh trong vùng.

Friday, January 01, 2010

Môi Trường Quanh Ta: Ăn tôm hùm & cá mồi làm mất quân bình




            Con người tiêu thụ cá hồi và tôm hùm làm mất quân bình cho hải dương. Nghiên cứu của Hội Bảo tồn Hải dương Úc Đại Lợi ngoài khơi đảo Tasmania cho thấy bắt tôm hùm để ăn làm gia tăng số lượng nhím biển đầy gai. Những loài này sau đó ăn sạch thảm tảo bẹ, tạo ra những vùng gọi là đồng hoang của nhím biển, gây mất mát về đa dạng sinh học và làm rối loạn hệ sinh thái của san hô đá quan trọng.
            Khoa học gia cũng khám phá rằng các trại nuôi cá hồi cũng tác động trầm trọng cho đời sống hải vật. Có tới 4 kílô cá hoang bị giết để sản xuất 1 kílô cá hồi Tasmania. Từ năm 2006 đến 2008, các cá nuôi đã ăn gần 18 tấn thuốc trụ sinh vì dễ bị nhiễm bệnh bởi điều kiện cực kỳ chật chội. 
            Hiện nay nhiệt độ của nước biển duyên hải ở phía đông Tasmania tăng gấp 4 lần nhiệt độ trung bình trên toàn cầu. Các nghiên cứu gia cảnh cáo rằng những yếu tố do loài người tạo ra như bắt tôm hùm và đánh cá hồi làm tăng sự hủy hoại và giảm khả năng của hệ sinh thái để thích nghi. Tệ hơn nữa, các trại nuôi cá hồi thải ra số lượng chất độc khổng lồ đang ô nhiễm môi sinh của Tasmania.
            Cầu mong mọi người sớm chú ý đến tài liệu khẩn cấp này và chuyển sang lối sống thuần chay lành mạnh để bảo tồn đời sống quý báu cho các loài trên đại dương và cho chính mình nữa.
            Nguồn tham khảo: http://www.sciencealert.com.au/news/20091512-20412.html