Truyền Thống Ăn Chay: Nguồn gốc ăn chay của Phật giáo Trung Hoa



Trích đoạn bài "Vấn đề ăn chay trong đạo Phật" của Thượng tọa Thích Hạnh Bình, Tiến sĩ Phật học. Trong bài này Thầy giảng về nguồn gốc quan điểm ăn chay của Phật giáo Trung Hoa, vốn ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa của đất nước ta và một số các quốc gia Á Châu khác như Đài Loan, Đại Hàn, Nhật Bản, Tân Gia Ba. Tất nhiên ăn chay không phải là cứu cánh để giải thoát hay giác ngộ, nhưng ăn chay là bước đầu cần thiết để giúp ta tìm về với bản lai từ ái.  

Một điểm văn hóa khác nữa là trong hệ thống triết học Trung Quốc, Đạo gia đề cao cõi Tiên. Từ đó đưa ra quan điểm, ai muốn thành Tiên, người ấy cần phải tiết dục, kiêng cữ rượu thit, nên ăn những thức ăn là những loại thảo mộc, để thân thể được nhẹ nhàng, dễ bề thăng Thiên. Có lẽ đó cũng là lý do để chúng ta tìm hiểu việc hình thành quan điểm ăn chay theo Phật giáo Trung Quốc.
Như chúng ta đã biết, Phật giáo Trung Quốc hay những nước Phật giáo chịu ảnh hưởng theo Phật giáo Trung Quốc, đều có quan niệm chung về việc ăn chay là không ăn thịt các loài động vật, cho dù là loại thịt không thấy không nghe và không nghi. Thậm chí cho rằng, ai mà ăn thịt người ấy phải đọa vào địa ngục và không thể thành Phật. Quan điểm ăn chay này, bắt nguồn từ đâu? Đó là câu hỏi mà bất cứ người nghiên cứu nào cũng đặt ra và tìm hiểu, bản thân người viết cũng không ngoại lệ.
 
Để trả lời nghi vấn này, chúng ta có thể dựa vào tác phẩm “Trung Quốc Phật giáo sử” của nhà sử học Quách Bằng để tìm hiểu vấn đề ăn chay này. Trong tác phẩm này, chương thứ 3, tiết thứ 3 là chuyên đề thảo luận về: Vua Lương Võ Đế (502 ~ 536) và vấn đề ăn chay. Tác giả trích dẫn một số sắc lịnh của nhà vua, từng ban hành bắt buộc Tăng ni phải triệt để ăn chay, không được ăn mặn. Ở đây chúng ta cũng cần hiểu sơ lược về nhà vua này, Lương Võ Đế vốn là nhà vua rất thuần thành tín ngưỡng Phật giáo, ông là người có công kiến tạo nhiều ngôi chùa đồ sộ ở Trung Quốc, lập đàn tràng trai tăng chẩn tế, còn thay mặt Tăng già giảng kinh nói pháp, ngay cả việc chú giải kinh điển. Một quan điểm đặc biệt của ông có ảnh hưởng sâu sắc đến hậu thế là đề xướng vấn đề ăn chay (hoàn toàn không ăn thịt cá). Vì muốn toàn thể Tăng Ni triệt để thực thi, cho nên nhà vua đã ban ra tổng cộng 4 sắc lịnh, với nội dung bắt Tăng Ni phải triệt để ăn chay. Trong đó có đoạn ông viết: “Nay, các Tăng ni, các vị trụ trì, cần phải cảnh giác, nghiêm dạy chúng tăng (không được ăn mặn); nếu giải đãi, không tuân lệnh…sẽ trị tội” hay “Nếu Tăng chúng không tuân lệnh…vẫn còn ăn mặn, đệ tử (Lương Võ Đế) sẽ căn cứ theo pháp lệnh trị tội”. 

Từ đó, Tăng Ni Phật giáo Trung Quốc bắt đầu ăn chay theo kiểu này. Có lẽ đó là lý do chính đáng để lý giải tại sao Phật giáo Đại thừa ở Trung Quốc lại ăn chay không ăn mặn. Nó khác với một số nước Phật Giáo Đại thừa như Tây Tạng, Mông Cổ, họ không ăn chay như Phật giáo Trung Quốc. Nhưng một số nước chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc, như Việt Nam, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản đều ăn chay, không ăn mặn. 
Sự hình thành cách ăn chay này có nhiều lý do, trước nhất là yếu tố cơ bản về tâm từ bi của Phật giáo, trong đó có cả yếu tố lòng nhiệt thành của nhà vua đối với Phật Pháp, ngang qua địa vị của mình nhà vua đã nới rộng lòng từ bằng cách không ăn thịt. Xét thấy, nó không những không trái với lòng từ bi của Phật giáo, còn phù hợp với bản sắc văn hóa của Trung Quốc, cho nên việc ăn chay hình thành.